Bỏ qua nội dung chính
BUSINESS LAW FIRM
Bản tin10 · 09 · 20264 phút đọc

Bản Tin Pháp Luật 08/2026

Cập nhật chính sách giảm 30% thuế TNDN & TNCN, các quy định mới về đầu tư, thủ tục xuất nhập khẩu, cùng khung xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản vừa ban hành trong tháng 08/2026

Trần Ninh Hà
Trần Ninh Hà
Managing Partner · Trưởng nhóm Đầu tư & FDI

ĐIỂM TIN NỔI BẬT

Trong lĩnh vực Doanh nghiệp - Thương mại

  • Ngày 21/8/2026, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 121/2026/TT-BTC Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 68/2025/TT-BTC ngày 01/7/2025 của Bộ Tài chính ban hành biểu mẫu sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh.
  • Ngày 25/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 39/2026/NQ-CP Về cơ chế chuyển tiếp sử dụng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ khi doanh nghiệp thay đổi tên nhưng không thay đổi pháp nhân và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa.

Trong lĩnh vực Đầu tư - Xây dựng

  • Ngày 17/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 323/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
  • Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành một số luật gồm: Luật số 24/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15; Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16.
  • Ngày 26/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 339/2026/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý, phát triển nhà, kinh doanh bất động sản.

Trong lĩnh vực Đấu thầu - Cạnh tranh - Quy hoạch

  • Ngày 27/8/2026, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 129/2026/TT-BTC Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 98/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mẫu hồ sơ đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, dự án đầu tư kinh doanh; cung cấp, đăng tải thông tin về đầu tư theo phương thức đối tác công tư, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Trong lĩnh vực Đất đai - Nhà ở

  • Ngày 13/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 229/NQ-CP Về việc ban hành Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan và Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW.
  • Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP Quy định về định danh địa điểm.

Trong lĩnh vực Thuế - Phí - Lệ phí

  • Ngày 14/8/2026, Bộ Tài Chính ban hành: Thông tư số 117/2026/TT-BTC Quy định miễn, giảm một số khoản phí, lệ phí để triển khai Nghị quyết số 66.22/2026/NQ-CP ngày 09/7/2026 của Chính phủ về phát triển công dân số; Quyết định số 2199/QĐ-BTC Phê duyệt Danh mục thủ tục hành chính lĩnh vực quản lý thuế thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính thực hiện tiếp nhận, trả kết quả và không thực hiện tiếp nhận, trả kết quả tại Trung tâm phục vụ Hành chính công cấp tỉnh, xã; tiếp nhận trên Cổng dịch vụ công quốc gia.
  • Ngày 18/8/2026, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 118/2026/TT-BTC Hướng dẫn đối tượng, phạm vi và thể thức áp dụng Chuẩn mực quốc tế về kế toán tại Việt Nam.
  • Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 43/2026/QH16 Về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp.
  • Ngày 24/8/2026, Cục Thuế ban hành Quyết định số 1233/QĐ-CT Ban hành Quy định về thành phần chứa dữ liệu nghiệp vụ hóa đơn, chứng từ điện tử và phương thức truyền nhận với cơ quan thuế.

Trong lĩnh vực Xuất-Nhập khẩu

  • Ngày 14/8/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2040/QĐ-BCT Về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành và sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Công Thương.
  • Ngày 22/8/2026, Bộ Tài Chính ban hành: Quyết định số 2206/QĐ-BTC Về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục Hải quan được tiếp nhận, trả kết quả tại Bộ phận Một cửa của Cục Hải quan và danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục Hải quan không tiếp nhận tại Bộ phận Một cửa của Cục Hải quan; Thông tư số 124/2026/TT-BTC Bổ sung khoản 10 Điều 15 Thông tư số 33/2023/TT-BTC ngày 31/ 5/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
  • Ngày 22/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 336/2026/NĐ-CP Quy định thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN.
  • Ngày 23/8/2026, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16.

Dự thảo

  • Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
  • Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
  • Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 141/2026/NĐ-CP.

ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Luật số 24/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư tập trung điều chỉnh các quy định liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời bổ sung các điều khoản chuyển tiếp và sửa đổi một số luật liên quan.

Cụ thể, Luật bổ sung điểm m khoản 1 Điều 6 quy định về hoạt động kinh doanh khí N2O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp (trừ mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học và các trường hợp theo quy định của Chính phủ), đồng thời bổ sung Chính phủ quy định chi tiết nội dung này tại khoản 2a vào sau khoản 2 Điều này. Bên cạnh đó, Phụ lục IV về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được thay thế hoàn toàn bằng danh mục mới ban hành kèm theo Luật này. Về điều khoản thi hành, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027, riêng quy định về kinh doanh khí N2O bắt đầu có hiệu lực sớm từ ngày 01/01/2027. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm quy định giải pháp hoặc phương án quản lý thay thế đối với những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã bị bãi bỏ nhưng nằm trong phụ lục cũ trước ngày Luật chính thức có hiệu lực. Ngoài ra, Luật cũng tiến hành sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 88 Luật Xây dựng liên quan đến chứng chỉ hành nghề và điều kiện năng lực cá nhân trong hoạt động xây dựng, đồng thời bãi bỏ khoản 6 Điều 29 của Luật Đường bộ. Đối với các quy định chuyển tiếp, các hợp đồng kinh doanh khí N2O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp, trừ mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học và mục đích khác theo quy định của Chính phủ đã giao kết sẽ chấm dứt hiệu lực từ ngày 01/01/2027, các bên tham gia có thời hạn tối đa 45 ngày để tiến hành thanh lý theo pháp luật dân sự. Chính phủ quy định xử lý chuyển tiếp đối với hoạt động dịch vụ hỗ trợ cấp thị thực của cơ sở kinh doanh được ủy quyền thực hiện trước ngày 01/3/2027. Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh bị bãi bỏ theo danh mục mới, tổ chức và cá nhân được phép hoạt động kinh doanh mà không cần đáp ứng điều kiện đầu tư; đồng thời được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận hoặc văn bản xác nhận đã được cấp đến hết thời hạn mà không phải làm thủ tục gia hạn, các hồ sơ đang chờ giải quyết nộp trước đó sẽ ngừng giải quyết và trả hồ sơ cho cá nhân, tổ chức đã nộp.

Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16 ngày 24/8/2026 bao gồm các quy định chung và các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt, các thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt.

Luật quy định các cơ chế và chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của các thành phố là đô thị loại đặc biệt (được gọi là Thành phố, ngoại trừ Thủ đô Hà Nội thực hiện theo Luật Thủ đô), các thành phố khác, khu kinh tế đặc biệt cũng như vùng đô thị đặc biệt. Hệ thống thuật ngữ được chuẩn hóa để làm rõ các khái niệm cốt lõi như: khu kinh tế đặc biệt; dự án lớn, quan trọng; không gian tầm thấp và tầm cao; khu thương mại tự do; khu logistics tích hợp; kinh tế biển; khu cảng mở; vùng đô thị đặc biệt; phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Chính quyền Thành phố được trao quyền chủ động rất lớn trong việc quy định số lượng đại biểu hội đồng nhân dân, cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp công lập, chế độ tiền lương, thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và tổng số lượng biên chế. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố được quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, ứng dụng công nghệ số, cũng như quy định các biện pháp đặc thù để thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội. Đặc biệt, Thành phố được phép thực hiện thí điểm các cơ chế, chính sách mới chưa có trong luật hoặc khác với luật (trừ lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại) trong thời gian tối đa 05 năm và có thể gia hạn thêm 05 năm. Bên cạnh đó, hoạt động chuyên môn hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính cũng được đẩy mạnh xã hội hóa có kiểm soát nhằm tiết kiệm thời gian và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Trên địa bàn Thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thành phố tích hợp thay thế quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung, có giá trị pháp lý tương đương. Không gian ngầm, không gian tầm thấp và không gian tầm cao được quy hoạch, phân vùng và quản lý chặt chẽ nhằm tối ưu hóa nguồn lực phát triển kinh tế kết hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh. Công tác đầu tư xây dựng, chỉnh trang đô thị, cải tạo nhà chung cư và phát triển nhà ở xã hội được chú trọng theo hướng hiện đại, đồng bộ hạ tầng và ưu tiên tái định cư tại chỗ cho người dân. Mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) được triển khai bằng việc sử dụng ngân sách để thu hồi đất, chỉnh trang đô thị, gia tăng chỉ tiêu sử dụng đất quanh các nhà ga đường sắt và thu giá trị tăng thêm từ đất để tái đầu tư hệ thống giao thông. Về hạ tầng và môi trường, Thành phố thúc đẩy phát triển giao thông xanh, hạn chế phương tiện cá nhân, áp dụng phí giảm ùn tắc giao thông, phát triển logistics, kinh tế tuần hoàn và quản lý nghiêm ngặt chất thải rắn. Các dự án đầu tư công và dự án PPP lớn, quan trọng được phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư mạnh mẽ nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị. Để bảo đảm trật tự an toàn xã hội, Hội đồng nhân dân Thành phố được quy định mức tiền phạt vi phạm hành chính cao hơn (không quá 2 lần mức tiền phạt chung) và áp dụng biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với các công trình xây dựng sai quy hoạch, không phép hoặc vi phạm nghiêm trọng về đất đai, phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường. Thành phố thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (bao gồm Quỹ đầu tư phát triển địa phương và thành lập doanh nghiệp đường sắt địa phương), thúc đẩy kinh tế biển, phát triển các khu đô thị lấn biển với cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược và khai thác khoáng sản phục vụ san lấp. Các ngành dịch vụ, thương mại chất lượng cao, mô hình Outlet, cùng việc thành lập và vận hành khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu phi thuế quan và khu chức năng mới được áp dụng nhiều cơ chế ưu đãi vượt trội về hải quan, thuế, ngoại hối và thủ tục đầu tư. Luật cũng tạo hành lang pháp lý để phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam với hệ sinh thái tài chính toàn diện, cùng các chính sách phát triển hạ tầng năng lượng, năng lượng tái tạo và mua bán điện trực tiếp. Trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, Thành phố được chủ động ban hành cơ chế xã hội hóa, bảo tồn di sản, phát triển kinh tế ban đêm và công nghiệp sáng tạo văn hóa. Giáo dục và y tế được đẩy mạnh tự chủ, liên kết quốc tế, phát triển trường chất lượng cao, hệ thống cấp cứu ngoại viện và các chính sách an sinh xã hội bao phủ toàn dân. Về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, Thành phố ưu tiên nguồn lực hình thành các khu đô thị khoa học, công nghệ, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, đồng thời áp dụng cơ chế "thử nghiệm có kiểm soát" đối với các giải pháp và mô hình kinh doanh mới. Về tài chính - ngân sách, ngân sách Thành phố được hưởng tỷ lệ điều tiết tăng thu hợp lý từ các khoản thu phân chia với trung ương, được quyền phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình, quản lý quỹ tài chính và quyết định các định mức chi tiêu, hỗ trợ lãi suất để tạo động lực mạnh mẽ cho đầu tư phát triển và quản trị đô thị đặc biệt. Cuối cùng, Luật quy định rõ thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư các dự án lớn, có cơ chế tháo gỡ khó khăn pháp lý cho các dự án chậm triển khai trước đây, đồng thời đẩy mạnh sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân trong quản lý và khai thác hiệu quả tài sản công.

Nghị định số 339/2026/NĐ-CP ngày 26/8/2026 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý, phát triển nhà, kinh doanh bất động sản.

Nghị định 339/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bao gồm xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý và phát triển nhà, cũng như kinh doanh bất động sản. Nghị định này xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hệ thống hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thời hiệu xử phạt, cùng các nhóm hành vi vi phạm cụ thể trong từng lĩnh vực chuyên ngành. Về đối tượng và nguyên tắc áp dụng xử phạt, Nghị định quy định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước thực hiện hành vi vi phạm trên lãnh thổ Việt Nam, các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp, Ban quản trị nhà chung cư và người có thẩm quyền xử phạt. Mức phạt tiền áp dụng cho cá nhân bằng một nửa mức phạt áp dụng cho tổ chức với cùng một hành vi. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức trong lĩnh vực xây dựng và kinh doanh bất động sản là 1.000.000.000 đồng, còn trong lĩnh vực quản lý hạ tầng kỹ thuật, quản lý và phát triển nhà là 300.000.000 đồng. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được ấn định là 01 năm đối với các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; và 02 năm đối với lĩnh vực xây dựng, quản lý và phát triển nhà. Trong lĩnh vực xây dựng, Nghị định quy định chế tài chi tiết các vi phạm liên quan đến quy hoạch đô thị, nông thôn, kiến trúc và năng lực hoạt động xây dựng. Các chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn và kiến trúc sư vi phạm quy định về lập, điều chỉnh quy hoạch, thi tuyển kiến trúc hay không đáp ứng điều kiện năng lực hành nghề sẽ chịu các mức phạt tiền tương ứng, đồng thời bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như lập lại quy hoạch, thi tuyển lại hoặc đình chỉ công tác chủ trì. Đối với công tác thẩm định dự án, khảo sát, thiết kế và dự toán xây dựng, Nghị định quy định phạt nặng các hành vi như phê duyệt dự án không phù hợp quy hoạch, thi công không có dự toán thẩm định, không áp dụng mô hình BIM theo quy định, hoặc nhà thầu báo cáo sai thực tế khảo sát. Về trật tự xây dựng, quản lý thi công và nghiệm thu công trình, Nghị định thiết lập khung phạt khắt khe đối với chủ đầu tư và nhà thầu. Các hành vi khởi công khi chưa đủ điều kiện, thi công không che chắn làm rơi vãi vật liệu, xây dựng sai nội dung giấy phép, không có giấy phép xây dựng, xây dựng sai quy hoạch hoặc cơi nới, lấn chiếm không gian công cộng đều bị xử phạt nặng. Hành vi tiếp tục vi phạm sau khi đã bị lập biên bản hoặc tái phạm sẽ chịu mức phạt vi phạm hành chính lên tới 1.000.000.000 đồng cùng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, tịch thu phương tiện vi phạm và buộc phá dỡ công trình vi phạm. Bên cạnh đó, việc không mua bảo hiểm bắt buộc, vi phạm quy chuẩn kỹ thuật, không thực hiện đúng công tác giám sát, nghiệm thu, bàn giao hay quản lý hồ sơ bảo hành, bảo trì công trình cũng bị áp dụng các hình thức xử phạt và cưỡng chế khắc phục toàn diện.

THUẾ - PHÍ - LỆ PHÍ

Nghị quyết số 43/2026/QH16 của Quốc hội quy định về chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ cho các cá nhân và doanh nghiệp trong giai đoạn 2026 - 2027.

Cụ thể, Nghị quyết quyết định giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của các cá nhân cư trú có mức doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng. Bên cạnh đó, chính sách này cũng áp dụng mức giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 cho các doanh nghiệp, tổ chức thành lập theo pháp luật Việt Nam có mức doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng. Tuy nhiên, quy định này loại trừ các doanh nghiệp hình thành từ việc chia, tách sau khi Nghị quyết có hiệu lực mà tổng doanh thu hằng năm của các doanh nghiệp sau khi chia, tách vượt quá 10 tỷ đồng. Đối với những doanh nghiệp đang được hưởng các chính sách ưu đãi thuế khác theo quy định hiện hành, số thuế được giảm sẽ tính trên khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp sau khi đã trừ đi các ưu đãi đó.

XUẤT NHẬP KHẨU

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định về việc thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN, cũng như công tác quản lý, vận hành, trao đổi và chia sẻ dữ liệu thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện và liên quan đến thủ tục hành chính về hàng hóa, phương tiện, người xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cùng các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số và phần mềm. Văn bản làm rõ các khái niệm cốt lõi như cơ chế một cửa quốc gia, Cổng thông tin một cửa quốc gia, hệ thống xử lý chuyên ngành, chứng từ điện tử, cơ chế một cửa ASEAN và số định danh hàng hóa, đồng thời quy định Cổng thông tin một cửa quốc gia phải đảm bảo các chức năng từ tiếp nhận, xác thực, chuyển tiếp chứng từ đến lưu trữ trạng thái giao dịch, chia sẻ thông tin và kết nối quốc tế dựa trên các nguyên tắc tuân thủ pháp luật về bảo mật, an ninh mạng, tính minh bạch và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Về tổ chức quản lý và vận hành, Cục Hải quan thuộc Bộ Tài chính là đơn vị quản lý kỹ thuật, vận hành, bảo trì Cổng thông tin một cửa quốc gia, cấp tài khoản, đảm bảo hoạt động liên tục 24/7 và phối hợp quốc tế, trong khi các bộ, ngành chịu trách nhiệm kết nối hệ thống xử lý chuyên ngành với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia và chuẩn hóa dữ liệu theo quy định. Nghị định quy định chi tiết thẩm quyền truy cập, các biện pháp lưu trữ và bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, trong đó dữ liệu thuộc diện bí mật nhà nước phải được lưu trữ tại Việt Nam. Trách nhiệm của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực bao gồm việc công bố danh mục thủ tục, chuẩn hóa biểu mẫu chứng từ điện tử, phối hợp xử lý sự cố và duy trì kênh hỗ trợ người sử dụng. Đối với các quy định chung về thủ tục hành chính, nghị định hướng dẫn chi tiết quy trình đăng ký, khóa, kích hoạt, thu hồi và quản lý tài khoản người khai (thông qua Cổng thông tin hoặc ứng dụng VNeID) cũng như tài khoản của cán bộ, công chức. Việc sử dụng chữ ký số phải tuân thủ pháp luật chuyên ngành và được chứng nhận bởi tổ chức cung cấp dịch vụ hợp pháp. Quy trình thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa quốc gia trải qua các bước gửi thông tin, cấp mã số hồ sơ, xử lý chuyên ngành và trả kết quả tự động, không làm thay đổi thẩm quyền hay thành phần hồ sơ theo luật chuyên ngành. Hồ sơ hành chính bao gồm chứng từ điện tử và chứng từ giấy, với các quy định cụ thể về điều kiện pháp lý, việc chuyển đổi giữa chứng từ giấy và điện tử, cũng như phương án xử lý sự cố kỹ thuật hoặc trường hợp bất khả kháng thông qua hồ sơ giấy hoặc hệ thống chuyên ngành dự phòng. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, quy trình khai báo, sửa đổi bổ sung thông tin và nộp chứng từ được thực hiện qua Bản khai chung hoặc các tiêu chí định dạng do bộ quản lý ngành xây dựng, kết hợp cơ chế sử dụng kết quả kiểm tra đối với hàng hóa đồng nhất nhập khẩu vượt số lượng khai báo. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực áp dụng quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ để ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chịu quản lý chuyên ngành gắn với mã số HS cụ thể, đồng thời phối hợp chặt chẽ với cơ quan hải quan và các tổ chức đánh giá sự phù hợp trong việc kiểm tra, lấy mẫu, phát hiện hàng hóa không đạt chuẩn hoặc có dấu hiệu vi phạm để xử lý kịp thời. Đối với phương tiện vận tải, nghị định chia thành các mục riêng biệt cho từng lĩnh vực gồm đường hàng không, đường biển (cảng thuỷ nội địa, cảng dầu khí ngoài khơi), đường bộ, đường sắt liên vận quốc tế và đường thủy nội địa. Tại các cảng hàng không và ga liên vận quốc tế, hãng hàng không, người khai hải quan có trách nhiệm cung cấp trước thông tin chuyến bay, danh sách hành khách, tổ lái và thông tin đặt chỗ (PNR) để các cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch y tế và cảng vụ xử lý, xác nhận hoàn thành thủ tục trong thời hạn không quá 01 giờ kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với tàu thuyền và phương tiện đường bộ, đường thủy nội địa, nghị định quy định rõ thời hạn khai báo trước khi đến cửa khẩu, trách nhiệm xử lý của từng lực lượng chức năng tại cửa khẩu, cơ chế phân định thẩm quyền quyết định cuối cùng khi các cơ quan có ý kiến khác nhau đối với cùng một chứng từ, cũng như thủ tục áp dụng cho các phương tiện vận tải đặc thù như phương tiện tự hành không người lái, băng tải, đường ống dẫn. Cuối cùng, chương về điều ước quốc tế khẳng định Cổng thông tin một cửa quốc gia là đầu mối thực hiện trao đổi thông tin, chứng từ điện tử với các quốc gia, vùng lãnh thổ có thỏa thuận quốc tế, đặc biệt là việc triển khai cơ chế một cửa ASEAN nhằm công nhận lẫn nhau về chứng từ điện tử, giúp đơn giản hóa thủ tục và giảm thời gian thông quan hàng hóa, phương tiện.

Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan. Nội dung trọng tâm của luật tập trung vào việc kiện toàn các quy định về cơ chế một cửa quốc gia, quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro và các hoạt động nghiệp vụ hải quan chuyên sâu.

Về các khái niệm và nguyên tắc chung, luật sửa đổi, bổ sung định nghĩa về cơ chế một cửa quốc gia trên cơ sở hệ thống thông tin một cửa quốc gia để giải quyết thủ tục hải quan và các thủ tục quản lý nhà nước liên quan. Đồng thời, văn bản bổ sung các khái niệm mới như: quản lý tuân thủ và địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế, đồng thời mở rộng rõ các đối tượng là người khai hải quan bao gồm cả chủ quản nền tảng thương mại điện tử, doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát nhanh và các đại lý làm thủ tục hải quan. Công tác kiểm tra, giám sát hải quan được định hướng gắn liền với việc ứng dụng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật trao đổi dữ liệu điện tử, quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý kết hợp tạo thuận lợi thương mại. Đối với thương mại điện tử và công nghệ số, luật bổ sung điều khoản riêng quy định về việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử. Theo đó, các tổ chức, cá nhân mua bán hàng hóa xuyên biên giới qua nền tảng này bắt buộc phải thực hiện định danh, xác thực điện tử. Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm kết nối trực tiếp với hệ thống xử lý dữ liệu của cơ quan hải quan, cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa và phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp vận chuyển, kho bãi để phục vụ công tác giám sát. Bên cạnh đó, cơ quan hải quan được định hướng ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong các quy trình nghiệp vụ như quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan để xem xét áp dụng chế độ ưu tiên hoặc miễn giảm mức độ kiểm tra phù hợp. Về hồ sơ, thủ tục hải quan và kho bãi, luật quy định chi tiết về thành phần hồ sơ hải quan bao gồm tờ khai hải quan dưới dạng thông điệp dữ liệu hoặc chứng từ giấy đảm bảo tính toàn vẹn. Các trường hợp thông tin đã được cơ quan quản lý chuyên ngành cấp qua cơ chế một cửa quốc gia thì người khai hải quan không phải nộp lại. Thời hạn nộp hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được quy định cụ thể theo từng loại hình. Các quy định về kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm tập kết kiểm tra giám sát và cửa hàng miễn thuế cũng được chuẩn hóa lại về thời gian lưu giữ (không quá 24 tháng kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan), điều kiện thành lập, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng kết nối dữ liệu điện tử với cơ quan hải quan. Về kiểm tra sau thông quan, giải quyết tranh chấp và sở hữu trí tuệ, luật làm rõ phạm vi, thẩm quyền quyết định kiểm tra sau thông quan của Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan và Trưởng Hải quan khu vực trong thời gian tối đa 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai. Thời hạn kiểm tra được ấn định không quá 20 ngày và có thể gia hạn một lần tối đa 20 ngày trong trường hợp phức tạp. Đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ, cơ quan hải quan được giao thẩm quyền áp dụng các biện pháp kiểm soát, đồng thời có quyền chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan khi phát hiện căn cứ rõ ràng nghi ngờ hàng hóa là giả mạo về sở hữu trí tuệ. Cuối cùng, luật cũng điều chỉnh tên gọi, chức năng nhiệm vụ của một số cơ quan trực thuộc hệ thống hải để đảm bảo tính đồng bộ với các luật liên quan.

DỰ THẢO

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm các quy định chung và các chế độ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế nhằm hướng dẫn chi tiết Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cùng các luật sửa đổi, bổ sung liên quan.

Chương I của dự thảo tập trung vào các quy định chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, xác định chi tiết các đối tượng chịu thuế (bao gồm hàng hóa xuất nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới, hàng hóa giao dịch với khu phi thuế quan, hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ và quyền của doanh nghiệp chế xuất), cũng như nguyên tắc áp dụng thuế suất linh hoạt đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thông thường, ưu đãi, ưu đãi đặc biệt và hàng hóa tại chỗ. Chương này cũng quy định rõ ràng về thời hạn nộp thuế cùng các hình thức bảo lãnh (bảo lãnh riêng, bảo lãnh chung) và đặt cọc tiền thuế áp dụng cho các hoạt động kinh doanh đặc thù như tạm nhập tái xuất. Chương II của dự thảo quy định chi tiết các trường hợp được miễn thuế, giảm thuế và hoàn thuế xuất nhập khẩu cho nhiều đối tượng khác nhau. Cụ thể, nghị định quy định về việc miễn thuế cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao dựa trên định mức và xác nhận của Bộ Ngoại giao; hành lý miễn thuế của người xuất cảnh, nhập cảnh tùy theo đối tượng và thời gian di chuyển; tài sản di chuyển của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc công dân về nước; quà biếu, quà tặng thương mại hoặc nhân đạo, từ thiện và quà tặng thuốc chữa bệnh hiểm nghèo theo các hạn mức giá trị và số lần nhận trong năm; cũng như hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới trong định mức cho phép. Bên cạnh đó, dự thảo dành phần lớn dung lượng để quy định chi tiết về việc miễn thuế cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư chiến lược, bao gồm: hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản phẩm gia công xuất khẩu; hàng hóa xuất khẩu để gia công và sản phẩm gia công nhập khẩu; hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu; hàng hóa tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập trong thời hạn nhất định; hàng hóa nhập khẩu tạo tài sản cố định cho các dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư, đặc biệt là các dự án có quy mô vốn lớn hoặc sử dụng nhiều lao động tại vùng nông thôn; nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được phục vụ cho các dự án đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn khó khăn trong thời hạn 5 năm; hàng hóa phục vụ hoạt động dầu khí, đóng tàu, phát triển giống cây trồng - vật nuôi - phân bón - thuốc bảo vệ thực vật phục vụ nông nghiệp; hàng hóa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghiệp công nghệ số; hàng hóa phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng và giáo dục; nguyên liệu sản xuất trang thiết bị y tế ưu tiên nghiên cứu chế tạo; hàng hóa bảo vệ môi trường, hoạt động in đúc tiền; hàng mẫu và ấn phẩm quảng cáo không nhằm mục đích thương mại; cũng như hàng hóa phục vụ đảm bảo an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, sản phẩm nông sản trồng tại Campuchia hỗ trợ đầu tư nhập khẩu về nước và các trường hợp đặc biệt khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán tập trung hoàn thiện các quy định pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán. Nội dung của dự thảo tập trung làm rõ và bổ sung các khái niệm, quy định chung như việc sửa đổi định nghĩa về quỹ hoán đổi danh mục và bổ sung khái niệm cụ thể về các tổ chức sử dụng người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán. Đồng thời, Nhà nước được định hướng có các chính sách mạnh mẽ hơn trong việc đầu tư hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, thu hút, đãi ngộ nguồn nhân lực và đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về thị trường chứng khoán. Một điểm mới quan trọng là việc bổ sung Điều 6a thiết lập khung pháp lý cho cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với việc ứng dụng công nghệ mới, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực chứng khoán trong phạm vi giới hạn về thời gian, không gian và đối tượng dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước.

  • Bên cạnh đó, dự thảo cũng có nhiều điều chỉnh quan trọng liên quan đến quá trình chào bán chứng khoán, giao dịch điện tử và hạ tầng thị trường. Cụ thể, các quy định về hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo thuận lợi hơn cho tổ chức phát hành. Thời hạn công bố Bản thông báo phát hành sau khi Giấy chứng nhận chào bán có hiệu lực được ấn định rõ trong vòng 07 ngày làm việc trên trang thông tin điện tử, Sở giao dịch chứng khoán và tối thiểu trên một báo điện tử. Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu tối thiểu sau đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn điều lệ lớn từ 1.000 tỷ đồng trở lên được điều chỉnh linh hoạt hơn ở mức 10% do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ. Về hạ tầng giao dịch và thanh toán, dự thảo bổ sung khung pháp lý cho giao dịch điện tử và bảo đảm an toàn giao dịch điện tử do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định; đồng thời mở rộng đối tượng được đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và làm rõ các ngân hàng thương mại được tham gia cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán. Về điều kiện thành lập, hoạt động và nhân sự của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, dự thảo sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn khắt khe và hợp lý hơn đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ. Cụ thể, cổ đông hoặc thành viên góp vốn là tổ chức phải có hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liền trước năm đề nghị cấp phép. Các điều kiện về nhân sự chủ chốt như Tổng giám đốc (Giám đốc), người đại diện theo pháp luật, và nhân viên nghiệp vụ được quy định chi tiết hơn về tiêu chuẩn chuyên môn, chứng chỉ hành nghề (như chứng chỉ phân tích tài chính, quản lý quỹ) cũng như yêu cầu tối thiểu về năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán hoặc bảo hiểm. Đối với chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài và công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam, các điều kiện về cấp phép và thỏa thuận hợp tác quốc tế giữa cơ quan quản lý nguyên xứ và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng được cập nhật đồng bộ. Đối với nghiệp vụ và hoạt động cung cấp dịch vụ của công ty chứng khoán, dự thảo mở rộng và làm rõ phạm vi hoạt động kinh doanh, bao gồm việc nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch cho nhà đầu tư cá nhân, cung cấp dịch vụ đại lý quản lý tài sản bảo đảm, dịch vụ đại diện người sở hữu trái phiếu và các dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp khác. Các quy định về cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề chứng khoán cùng quyền hạn, trách nhiệm của người hành nghề cũng được siết chặt; trong đó bổ sung các trường hợp thu hồi chứng chỉ khi không tham gia tập huấn định kỳ hoặc không làm việc tại các tổ chức sử dụng nhân sự có chứng chỉ hành nghề trong 03 năm liên tục. Đồng thời, các quy định liên quan đến quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát, đại hội nhà đầu tư và tỷ hạn mức đầu tư của quỹ đại chúng cũng được hoàn thiện.

Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định toàn diện về nguyên tắc, nội dung, nguồn lực, hình thức quản lý ngân sách hỗ trợ cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Về đối tượng áp dụng, Luật điều chỉnh các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên số lao động sử dụng bình quân năm (không quá 300 người) kết hợp với tiêu chí tổng nguồn vốn (không quá 150 tỷ đồng) hoặc tổng doanh thu năm trước liền kề (không quá 400 tỷ đồng) phân theo các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ. Các nguyên tắc hỗ trợ cốt lõi bao gồm việc hỗ trợ có trọng tâm, có thời hạn, không trùng lặp, bảo đảm nguyên tắc thị trường, công khai, minh bạch, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, đồng thời ưu tiên các doanh nghiệp do phụ nữ hoặc người khuyết tật làm chủ, sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật hoặc doanh nghiệp ở vùng miền núi, biên giới và hải đảo.

  • Về các nội dung hỗ trợ chung (Chương II), Nhà nước thúc đẩy tiếp cận tín dụng thông qua các sản phẩm tài chính sáng tạo, cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị và tài sản vô hình. Về thuế và kế toán, các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn, được miễn thuế trong 03 năm đầu từ khi thành lập và được áp dụng thủ tục hành chính, chế độ kế toán đơn giản. Về mặt bằng sản xuất, ngân sách địa phương được sử dụng để hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở ươm tạo dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại với mức giảm tiền thuê đất tối thiểu 30% trong 05 năm đầu, đồng thời bố trí quỹ đất tối thiểu 20 ha hoặc 5% diện tích các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mới thành lập. Các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được chú trọng thông qua việc cho phép trích quỹ phát triển khoa học công nghệ, tính chi phí nghiên cứu phát triển bằng 200% chi phí thực tế, hỗ trợ sử dụng cơ sở thí nghiệm dùng chung, hạ tầng số và phần mềm kế toán dùng chung. Bên cạnh đó, dự thảo quy định các chính sách hỗ trợ tham gia mua sắm công (dành tối thiểu 20% ngân sách mua sắm hoặc gói thầu không quá 20 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa), hỗ trợ thương mại điện tử xuyên biên giới, đào tạo, tư vấn, huấn luyện, hỗ trợ pháp lý và cung cấp thông tin thống nhất qua Hệ thống thông tin doanh nghiệp. Đặc biệt, hệ sinh thái hỗ trợ cũng được định hướng phát triển mạnh mẽ nhằm kết nối thị trường dịch vụ, mạng lưới chuyên gia và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Bên cạnh các nội dung chung, Chương III của dự thảo tập trung vào các nhóm đối tượng và hoạt động trọng tâm. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, luật quy định các chính sách ưu đãi đặc thù về thuế (miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân cho nhà đầu tư và chuyên gia), khấu hao nhanh tài sản cố định phục vụ nghiên cứu phát triển, chỉ định thầu tư vấn chuyên sâu và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân. Đối với doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, dự thảo tạo điều kiện tối đa thông qua thủ tục đăng ký nhanh trong 01 ngày làm việc, miễn lệ phí đăng ký, áp dụng chế độ kế toán và kê khai thuế tối giản trong 36 tháng, hỗ trợ chi phí sử dụng nền tảng số, dịch vụ kế toán và các giải pháp tuân thủ bảo hiểm xã hội, lao động linh hoạt. Đối với doanh nghiệp kinh doanh bền vững, chính sách hỗ trợ bao gồm ưu đãi lãi suất 2%/năm cho dự án xanh và tuần hoàn, ưu đãi thuế bảo vệ môi trường, khấu hao nhanh máy móc thiết bị chuyển đổi xanh và hỗ trợ chi phí chứng nhận tiêu chuẩn ESG. Đối với doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị và đầu tư ra nước ngoài, nhà nước hỗ trợ nâng cấp năng lực nhà cung ứng, thử nghiệm, kiểm định chất lượng, phát triển công nghệ chung với doanh nghiệp đầu chuỗi và hỗ trợ chiến lược đầu tư quốc tế. Chương IV và Chương V quy định chi tiết về trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương các cấp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị cung cấp dịch vụ và chính doanh nghiệp trong việc công khai thông tin, kiểm tra, đánh giá và xử lý vi phạm. Về mặt lập pháp đồng bộ, dự thảo sửa đổi điểm đ khoản 2 Điều 10 Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 để ưu tiên các gói thầu xây lắp quy mô đến 20 tỷ đồng cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Luật dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2027, đi kèm các điều khoản chuyển tiếp nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chương trình đang thực hiện, đồng thời yêu cầu rà soát, sáp nhập hoặc giải thể các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương và Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời hạn tối đa 01 năm.

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 320/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 141/2026/NĐ-CP) quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, tập trung điều chỉnh các quy định về chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, các tiêu chí ưu đãi đầu tư, mức thuế suất, thời gian miễn giảm thuế và các điều khoản chuyển tiếp liên quan đến doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

  • Cụ thể, Điều 1 sửa đổi, bổ sung quy định về chứng từ, hóa đơn và điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản chi mua sản phẩm nông, lâm, thủy sản, phế liệu, hàng hóa dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân, đồng thời bổ sung các trường hợp ngoại lệ không bắt buộc áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt đối với doanh nghiệp chi trả cho người lao động hoặc hộ gia đình, cá nhân cư trú tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy định tại Nghị định số 96/2026/NĐ-CP. Điều 2, Điều 3, Điều 4 và Điều 5 điều chỉnh, bổ sung các nội dung về ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư (bao gồm các hoạt động ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược, trung tâm nghiên cứu và phát triển, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao), quy định mức thuế suất ưu đãi 10% trong 25 năm đối với nhóm doanh nghiệp công nghệ chiến lược (điểm e1 khoản 2 Điều 18), cũng như chuẩn hóa cách tính thời điểm bắt đầu áp dụng thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế, giảm thuế kể từ năm phát sinh doanh thu, thu nhập hoặc từ năm được cấp văn bản xác nhận, giấy chứng nhận lần đầu tiên. Bên cạnh đó, Điều 6 quy định điều khoản chuyển tiếp bảo đảm quyền lợi tiếp tục hưởng ưu đãi thuế theo nội dung ghi trên giấy chứng nhận đã cấp trước đó cho các tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 cho đến hết thời hạn. Cuối cùng, Điều 7 và Điều 8 quy định hiệu lực thi hành của Nghị định (trong đó quy định về thanh toán không dùng tiền mặt áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026, các điều về ưu đãi công nghệ áp dụng theo hiệu lực của các Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15, Luật An toàn thông tin mạng số 116/2025/QH15, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15) và phân công trách nhiệm thi hành cho các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Bài viết này có hữu ích?

Chia sẻ
Đọc tiếp

Bài liên quan cùng chủ đề.

Xem tất cả bài viết →
Bản tin10 · 01 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 09/2026

Đọc tiếp →
Bản tin10 · 08 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 07/2026

Đọc tiếp →
Bản tin10 · 07 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 06/2026

Đọc tiếp →

Có dự án liên quan đến một trong sáu nhóm trên?

Nhóm Đầu tư BLF tổ chức buổi rà soát pháp lý đầu tiên không tính phí. Liên hệ để đặt lịch.

Đặt lịch rà soát
Trao đổi với luật sư