Bỏ qua nội dung chính
BUSINESS LAW FIRM
Bản tin10 · 08 · 20266 phút đọc

Bản Tin Pháp Luật 07/2026

Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Trần Ninh Hà
Trần Ninh Hà
Managing Partner · Trưởng nhóm Đầu tư & FDI

ĐIỂM TIN NỔI BẬT

Trong lĩnh vực Doanh nghiệp - Thương mại

  • Ngày 21/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 290/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 của Chính phủ quy định về bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp.
  • Ngày 23/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 296/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực Đầu tư - Xây dựng

  • Ngày 06/7/2026, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 1171/QĐ-BXD Về việc ban hành quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực quản lý chất lượng công trình xây dựng; kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thuộc phạm vi giải quyết của Bộ Xây dựng do Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng thực hiện.
  • Ngày 21/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 288/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Trong lĩnh vực Đất đai - Nhà ở

  • Ngày 13/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
  • Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng

  • Ngày 16/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 284/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa.

Trong lĩnh vực Thuế - Phí - Lệ phí

  • Ngày 17/7/2026, Bộ Tài chính ban hành một số Quyết định gồm:
  • + Quyết định số 1911/QĐ-BTC Về việc công bố thủ tục hành chính được thay thế trong lĩnh vực quản lý thuế thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
  • + Quyết định số 1896/QĐ-BTC Về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực quản lý thuế, hải quan thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
  • Ngày 20/7/2026, Bộ Tài chính ban hành một số Quyết định gồm:
  • + Quyết định số 1931/QĐ-BTC Về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực quản lý thuế thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
  • + Quyết định số 1932/QĐ-BTC Về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, thay thế trong lĩnh vực quản lý thuế, hải quan thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
  • + Quyết định số 1933/QĐ-BTC Về việc công bố thủ tục hành chính được thay thế, bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản lý thuế thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
  • Ngày 21/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 291/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 của Chính phủ và Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ.
  • Ngày 28/7/2026, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 110/2026/TT-BTC Bãi bỏ toàn bộ một số Thông tư và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính trong lĩnh vực thuế.

DOANH NGHIỆP - THƯƠNG MẠI

Nghị định số 296/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.

Theo đó, nghị định quy định người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực, chính xác của thông tin trong hồ sơ, đồng thời chủ sở hữu, cổ đông, thành viên phải thực hiện đầy đủ quy định về tài sản góp vốn và không đứng tên thay người khác. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh có trách nhiệm khai thác thông tin sẵn có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác để giải quyết thủ tục, không yêu cầu người dân nộp các bản sao giấy chứng nhận hoặc văn bản chấp thuận đã có trên hệ thống. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, các giấy tờ về quyết định của chủ sở hữu có thể được thay thế bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về quản lý vốn nhà nước. Bên cạnh đó, nghị định siết chặt quy định về ủy quyền và xác thực điện tử khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Người ủy quyền và người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm pháp lý về việc ủy quyền, đồng thời bắt buộc phải thực hiện xác thực điện tử qua tài khoản định danh điện tử khi thành lập doanh nghiệp, thay đổi người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu, thành viên công ty hoặc thông tin cổ đông sáng lập. Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử, hồ sơ phải kèm theo bản sao thẻ Căn cước, Căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn hiệu lực. Đối với hoạt động qua mạng thông tin điện tử, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và hộ kinh doanh thể hiện dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử có giá trị pháp lý tương đương bản giấy. Quy trình thực hiện trên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia được chuẩn hóa, trong đó người nộp hồ sơ kê khai thông tin, ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, thanh toán phí, lệ phí và thực hiện xác thực điện tử để nhận giấy tiếp nhận và kết quả hẹn trả điện tử. Thời gian giải quyết các thủ tục liên quan tại một số điều khoản được rút ngắn từ 03 ngày làm việc xuống còn 02 ngày làm việc nhằm nâng cao hiệu quả hành chính công. Liên quan đến tình trạng pháp lý và giải thể, tạm ngừng kinh doanh, nghị định quy định rõ quy trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và Tòa án trong việc chuyển đổi trạng thái khi doanh nghiệp bước vào thủ tục phá sản, đình chỉ hoặc hủy quyết định tuyên bố phá sản. Về việc tạm ngừng kinh doanh, thời hạn tạm ngừng của mỗi lần thông báo tối đa là 12 tháng và tổng thời gian tạm ngừng liên tiếp không quá 24 tháng. Sau khi hết thời hạn tạm ngừng, người đại diện theo pháp luật phải xác nhận tiếp tục kinh doanh trở lại trong vòng 05 ngày làm việc; nếu vi phạm, doanh nghiệp có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đồng thời, hồ sơ đăng ký giải thể công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết phải kèm theo bản sao sổ đăng ký cổ đông.

ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Nghị định số 288/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành

Nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Văn bản này tập trung điều chỉnh các chế tài xử phạt liên quan đến hành vi vi phạm về kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh. Cụ thể, Điều 1 sửa đổi Điều 43 của nghị định gốc, theo đó áp dụng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực hoặc không chính xác nội dung hồ sơ thành lập, thay đổi, giải thể doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, đồng thời mở rộng phạm vi xử phạt đối với cả thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi hoặc thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Điều 2 sửa đổi Điều 44 về vi phạm thời hạn đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và các thông báo liên quan với khung hình phạt được chia thành nhiều mức độ căn cứ theo số ngày quá hạn. Hình thức cảnh cáo áp dụng cho trường hợp quá hạn từ 01 ngày đến 10 ngày; mức phạt tiền tăng dần từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng khi quá hạn từ 11 ngày đến 30 ngày; từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng khi quá hạn từ 31 ngày đến 90 ngày; và từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng nếu quá hạn từ 91 ngày trở lên. Đặc biệt, hành vi không đăng ký thay đổi bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, trong khi hành vi không bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi đối với doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/7/ 2025 tại thời điểm thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi gần nhất bị phạt nặng từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng kèm theo biện pháp khắc phục hậu quả buộc đăng ký thay đổi hoặc bổ sung thông tin theo quy định. Đối với các vi phạm trong khâu chuẩn bị hồ sơ thành lập ban đầu, Điều 3 bổ sung điểm mới vào Điều 46, xử lý hành vi không kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi tại thời điểm thực hiện thủ tục đăng ký thành lập và buộc doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục bổ sung thông tin này. Tiếp đó, Điều 4 sửa đổi Điều 48 quy định về chế tài xử phạt đối với vi phạm về chế độ báo cáo, cung cấp thông tin và thực hiện yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh. Hành vi báo cáo hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ nội dung hoặc không đúng thời hạn bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; mức phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng áp dụng cho các hành vi không tạm ngừng/chấm dứt kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo yêu cầu hoặc không đăng ký thay đổi tên doanh nghiệp bị xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; và mức phạt từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng áp dụng cho hành vi không báo cáo, không cung cấp thông tin theo yêu cầu hoặc cung cấp không trung thực, không chính xác (bao gồm thông tin chủ sở hữu hưởng lợi) kèm theo các biện pháp buộc bổ sung hoặc gửi lại báo cáo hợp lệ. Nghị định cũng tiến hành sửa đổi, bổ sung Điều 52 và Điều 65 thông qua Điều 5 và Điều 6 nhằm siết chặt quản lý nội bộ doanh nghiệp và hợp tác xã. Theo đó, phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi không ghi đầy đủ thông tin người góp vốn, cổ đông vào sổ đăng ký, không lưu giữ tài liệu doanh nghiệp bao gồm danh sách chủ sở hữu hưởng lợi, hoặc để doanh nghiệp ngừng hoạt động 01 năm mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, đồng thời buộc doanh nghiệp phải khắc phục bằng cách ghi chép, lưu giữ đầy đủ các tài liệu này. Đối với hợp tác xã, hành vi không lập, cập nhật và lưu trữ sổ đăng ký thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng kèm theo biện pháp buộc thực hiện đúng quy định.

ĐẤT ĐAI - NHÀ Ở

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành

Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Văn bản này bổ sung nguyên tắc xác định hành vi vi phạm đối với đơn vị hành chính đặc khu áp dụng mức xử phạt tương ứng của chính quyền địa phương ở phường hoặc xã, đồng thời quy định vợ và chồng cùng chung quyền sử dụng đất khi vi phạm sẽ bị xử phạt như đối với một cá nhân. Bên cạnh đó, nghị định cũng chuẩn hóa các biện pháp khắc phục hậu quả mới như: buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất hoặc mốc địa giới, thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai, cũng như buộc nộp lại các giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch hoặc giấy tờ giả đã sử dụng. Về quy định số lợi bất hợp pháp và đăng ký biến động, số lợi bất hợp pháp được xác định thành tiền do tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai có được từ việc sử dụng đất sau vi phạm và phải nộp vào ngân sách nhà nước, trong đó có cơ chế chia đều nếu nhiều bên cùng thực hiện và được khấu trừ các khoản tiền đã nộp ngân sách trước đó. Đặc biệt, mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng được quy định đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại Luật Đất đai, trừ các trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất. Thêm vào đó, các biện pháp khắc phục hậu quả trong việc giải quyết thủ tục hành chính cũng được điều chỉnh theo hướng buộc thực hiện lại, hủy bỏ kết quả giải quyết sai phạm hoặc nộp lại giấy tờ bị làm giả, tẩy xóa. Nghị định cũng điều chỉnh thẩm quyền xử phạt và nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra của các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo tính đồng bộ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành và các chức danh thuộc lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được quy định cụ thể về thẩm quyền phạt tiền, đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 03 tháng, quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về đất lâm nghiệp, đất an ninh và đất quốc phòng. Đồng thời, nghị định bãi bỏ, thay thế hoặc bổ sung hàng loạt cụm từ, điểm, khoản tại các điều khoản liên quan đến thanh tra, kiểm tra và thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương.

TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Nghị định số 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa.

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định ngày bao gồm các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt dựa trên cơ sở triển khai thí điểm theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP. Đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện hành vi vi phạm, cũng như các cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt. Hình thức xử phạt chính bao gồm cảnh cáo và phạt tiền. Bên cạnh đó, các hình thức xử phạt bổ sung có thể được áp dụng như tước quyền sử dụng giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch có thời hạn, đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành, cung cấp dịch vụ hoặc giao dịch tài sản mã hóa có thời hạn, cùng với việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm. Các biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc bao gồm hủy bỏ hoặc cải chính thông tin, nộp lại số lợi bất hợp pháp, gỡ bỏ trang thông tin điện tử/phần mềm/hệ thống giao dịch, hủy bỏ đợt chào bán/phát hành và hoàn trả tiền cho nhà đầu tư, hoặc nộp lại số tiền tương đương giá trị tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 200.000.000 đồng và đối với cá nhân là 100.000.000 đồng. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính chung là 01 năm, ngoại trừ trường hợp do cơ quan tố tụng chuyển đến thì được kéo dài thêm 01 năm. Về các hành vi vi phạm cụ thể, Nghị định áp dụng các mức phạt tiền khác nhau đối với từng nhóm vi phạm. Đối với hoạt động chào bán và phát hành tài sản mã hóa, mức phạt dao động từ 70.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng cho các hành vi như vi phạm sởhữu nước ngoài, cung cấp thông tin không chính xác gây hiểu nhầm, chào bán không đúng đối tượng, không đáp ứng đủ điều kiện hoặc không công bố Bản cáo bạch đúng quy định. Đối với việc tổ chức thị trường giao dịch, phạt từ 70.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với các vi phạm về công bố thông tin, không chấm dứt hoạt động hay không tất toán tài sản khi bị thu hồi giấy phép, cung cấp dịch vụ/quảng cáo khi chưa được cấp phép hoặc hoạt động không đúng nội dung giấy phép. Đối với trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, Nghị định quy định từ mức cảnh cáo (cho hành vi không tuyên truyền, phổ biến kiến thức) đến phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng cho các vi phạm như: không công khai quy trình/biểu giá dịch vụ, chậm công bố thông tin, không xác minh danh tính nhà đầu tư, không quản lý tách biệt tài sản của khách hàng, không bảo đảm an ninh hệ thống công nghệ thông tin, hoặc vi phạm trách nhiệm bảo đảm thông tin quảng cáo. Đối với quy định về giao dịch và chuyển tiền, nhà đầu tư trong nước giao dịch không qua tổ chức được cấp phép hoặc giao dịch tài sản dành cho nhà đầu tư nước ngoài bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; nhà đầu tư nước ngoài và các ngân hàng được phép vi phạm quy định mở, đóng, sử dụng tài khoản chuyên dùng hoặc chậm báo cáo thu chi bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai trái phép dữ liệu/thông tin tài khoản tài sản mã hóa bị phạt từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng. Các hành vi cản trở thanh tra, kiểm tra, che giấu hoặc hủy hoại chứng từ bị phạt từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng. Đặc biệt, nhóm hành vi vi phạm quy định về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt bị phạt từ 80.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng. Về thẩm quyền xử phạt và thi hành, Nghị định phân định rõ thẩm quyền xử phạt, lập biên bản vi phạm hành chính cho các chức danh thuộc ngành Chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước, Công an nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nghị định cũng hướng dẫn chi tiết quy trình áp dụng các hình thức đình chỉ hoạt động, biện pháp khắc phục hậu quả, cũng như cơ chế xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử. Nghị định 284/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026 cho đến khi Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP hết hiệu lực, đồng thời quy định cụ thể các điều khoản chuyển tiếp và trách nhiệm thi hành của Bộ Tài chính cùng các cơ quan liên quan.

THUẾ - PHÍ - LỆ PHÍ

Nghị định số 291/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành

Nhằm thực hiện việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP và Nghị định số 310/2025/NĐ-CP).

Cụ thể, Điều 1 của nghị định sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 3 Điều 5, qua đó quy định rõ hành vi vi phạm về cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế về thuế mà thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 19a mới thì sẽ không bị xử phạt theo các Điều 14, 15 và 19 của nghị định này. Tại Điều 2, nghị định tiến hành bổ sung Mục 3 và Điều 19a vào sau Mục 2 Chương II, cụ thể đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế liên quan đến việc cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin. Mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng áp dụng cho hành vi cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế quá thời hạn từ 05 ngày trở lên. Mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng áp dụng đối với hành vi cung cấp không chính xác hoặc không đầy đủ thông tin theo yêu cầu. Đặc biệt, mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng được ấn định cho các hành vi nghiêm trọng hơn bao gồm: không cung cấp thông tin sau 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn cung cấp (hoặc hết thời hạn gia hạn); hoặc có hành vi thông đồng, bao che người nộp thuế nhằm ngăn cản cơ quan thuế thu thập, xác minh thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định pháp luật và điều ước quốc tế. Đi kèm với các mức phạt này, biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc áp dụng là buộc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác đối với các hành vi vi phạm tương ứng. Bên cạnh đó, Điều 3 của nghị định thực hiện việc bổ sung cụm từ "Điều 19a" vào nhiều điều khoản liên quan về thẩm quyền xử phạt và thủ tục pháp lý tại khoản 6 Điều 2; điểm a, d khoản 4 Điều 7; điểm b khoản 3 và điểm b khoản 5 Điều 32; điểm b, d khoản 1 và điểm c, đ khoản 2 Điều 33; cũng như khoản 1 Điều 35 nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong quá trình áp dụng pháp luật xử lý vi phạm.

Bài viết này có hữu ích?

Chia sẻ
Đọc tiếp

Bài liên quan cùng chủ đề.

Xem tất cả bài viết →
Bản tin10 · 07 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 06/2026

Đọc tiếp →
Bản tin10 · 05 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 05/2026

Đọc tiếp →
Bản tin10 · 04 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 04/2026

Đọc tiếp →

Có dự án liên quan đến một trong sáu nhóm trên?

Nhóm Đầu tư BLF tổ chức buổi rà soát pháp lý đầu tiên không tính phí. Liên hệ để đặt lịch.

Đặt lịch rà soát
Trao đổi với luật sư