Bản Tin Pháp Luật 06/2026
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 161/NQ-CP Về việc bãi bỏ các quy định có liên quan đến việc dành tối thiểu 10% số thu ngân sách từ đất đai để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính.

ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG
Nghị định số 206/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết các nội dung liên quan đến quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Các nội dung được quy định trong Nghị định này bao gồm: sơ bộ tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng, giá gói thầu, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn xây dựng, chi phí khác, hệ thống công cụ định mức, giá và chỉ số giá xây dựng, cùng quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể và cơ quan nhà nước có liên quan.
Văn bản này áp dụng bắt buộc đối với các dự án đầu tư công, dự án PPP, dự án sử dụng chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, và khuyến khích các dự án khác tham khảo áp dụng. Nguyên tắc quản lý chi phí phải đảm bảo tính đồng bộ, tương ứng với thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật, làm cơ sở lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Hệ thống định mức, giá và chỉ số giá phải được cập nhật thường xuyên vào Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng. Đối với dự án đầu tư công, việc quản lý thực hiện theo hướng phân cấp, phân quyền và nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư. Về sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng, đây là khoản chi phí được dự tính ở giai đoạn chuẩn bị dự án dựa trên quy mô, công suất thiết kế sơ bộ kết hợp với suất vốn đầu tư hoặc dữ liệu từ các công trình tương tư. Sơ bộ tổng mức đầu tư được thẩm định, phê duyệt đồng thời với chủ trương đầu tư và chỉ được điều chỉnh theo các quy định pháp luật nghiêm ngặt. Trong khi đó, tổng mức đầu tư xây dựng được xác định cụ thể trong giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, bao gồm các khoản mục chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn; chi phí khác và chi phí dự phòng. Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa để chủ đầu tư triển khai dự án và việc điều chỉnh khoản mục này phải tuân thủ nguyên tắc bảo đảm hiệu quả đầu tư, được thẩm định bởi cơ quan chuyên môn hoặc Hội đồng thẩm định có thẩm quyền. Dự toán xây dựng công trình được xác định dựa trên khối lượng tính toán từ thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt (như thiết kế FEED, thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công) cùng các chỉ dẫn kỹ thuật và mặt bằng giá thị trường. Dự toán xây dựng gồm chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng và chi phí nhà tạm. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt dự toán xây dựng cũng như dự toán gói thầu để làm cơ sở lựa chọn nhà thầu. Dự toán xây dựng sau khi duyệt phải được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia và chỉ được điều chỉnh khi dự án, tổng mức đầu tư hoặc thiết kế có sự thay đổi. Hệ thống định mức xây dựng của quốc gia gồm định mức kinh tế - kỹ thuật (định mức cơ sở, định mức dự toán) và định mức chi phí. Bộ Xây dựng ban hành định mức sử dụng chung; các Bộ chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành định mức đặc thù thuộc phạm vi quản lý. Các cơ quan này có trách nhiệm định kỳ rà soát, cập nhật hệ thống định mức. Giá xây dựng và chỉ số giá xây dựng là các công cụ phản ánh giá trị và mức độ biến động giá theo thời gian. Sở Xây dựng có trách nhiệm xác định chỉ số giá xây dựng địa phương để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Xây dựng công bố định kỳ. Đối với các dự án đầu tư công quan trọng quốc gia có tính chất đặc thù, người quyết định đầu tư có thể thành lập Ban đơn giá xây dựng công trình để xác định giá vật liệu, thiết bị công nghệ mới. Chi phí quản lý dự án và chi phí tư vấn xây dựng là các khoản chi phí tối đa được xác định bằng tỷ lệ phần trăm hoặc lập dự toán để thực hiện các công việc từ giai đoạn chuẩn bị, thực hiện đến khi kết thúc xây dựng. Chi phí quản lý dự án bao gồm tiền lương, phụ cấp, chi phí hành chính và các khoản chi phục vụ quản lý khác. Trong trường hợp thuê tư vấn nước ngoài, dự toán chi phí phải được lập chi tiết dựa trên số lượng, trình độ chuyên gia, thời gian làm việc và được chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án thẩm định, phê duyệt. Chi phí tư vấn xây dựng được quản lý chặt chẽ thông qua hợp đồng và chỉ thay đổi khi có sự điều chỉnh về phạm vi, tiến độ công việc. Nghị định phân định rõ quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia bao gồm người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn và nhà thầu thi công. Người quyết định đầu tư có quyền kiểm tra việc quản lý chi phí của chủ đầu tư và thành lập ban đơn giá cho dự án đặc thù. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện trong việc xác định, quản lý và sử dụng nguồn vốn tiết kiệm, hiệu quả, được phép điều chỉnh cơ cấu chi phí trong tổng mức đầu tư nhưng không được vượt mức tối đa đã phê duyệt. Các nhà thầu tư vấn và nhà thầu thi công có quyền đề xuất định mức, giá dự thầu, đồng thời phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính chính xác của số liệu do mình lập và phải bồi thường thiệt hại nếu vi phạm hợp đồng. Trong công tác quản lý nhà nước, Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm thống nhất quản lý trên cả nước, ban hành các hướng dẫn phương pháp xác định chi phí và công bố hệ thống chỉ số giá quốc gia. Bộ Tài chính quy định về thu chi vốn ngân sách. Các Bộ quản lý chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng, ban hành định mức, công bố giá vật liệu, nhân công, máy thi công tại địa phương và bố trí ngân sách hàng năm để thực hiện các nhiệm vụ này.
Nghị định số 207/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết các điều khoản của Luật Xây dựng năm 2025 về quản lý chất lượng, thi công và bảo trì công trình xây dựng.
Nghị định xác định rõ phạm vi điều chỉnh đối với các chủ thể trong và ngoài nước tham gia hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời đưa ra các định nghĩa chuẩn về quản lý chất lượng, thi công, bảo trì, kiểm định và các thuật ngữ chuyên môn khác để thống nhất trong thực thi.
Về nguyên tắc quản lý, công trình phải được quản lý chặt chẽ từ khâu khởi công đến khi bàn giao và bảo trì để đảm bảo an toàn và chất lượng. Chủ đầu tư giữ vai trò chủ chốt trong việc quản lý, giám sát và nghiệm thu, trong khi các nhà thầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng và an toàn phần việc do mình thực hiện. Nghị định cũng quy định cụ thể việc phân định trách nhiệm trong các mô hình như Ban quản lý dự án, tư vấn quản lý dự án, hợp đồng EPC, chìa khóa trao tay và liên danh nhà thầu. Đặc biệt, công tác thí nghiệm, quan trắc, kiểm định và giám định xây dựng được quy định chặt chẽ về trình tự, trách nhiệm chi trả chi phí cũng như thẩm quyền chủ trì thực hiện nhằm đảm bảo tính khách quan. Đối với nhà ở riêng lẻ, nghị định quy định nguyên tắc an toàn làm trọng tâm. Tùy theo quy mô (số tầng, diện tích), chủ sở hữu có thể tự thực hiện thiết kế hoặc phải thuê đơn vị chuyên môn, đồng thời phải đảm bảo các yêu cầu về biển báo, biện pháp thi công an toàn và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin và mô hình thông tin công trình (BIM) trong quản lý thi công, lưu trữ hồ sơ điện tử cũng được khuyến khích và quy định rõ. Trong quản lý thi công, các điều kiện về khởi công, quản lý công trường, kiểm soát chất lượng vật liệu, cấu kiện và thiết bị được quy định chi tiết. Nhà thầu thi công có trách nhiệm lập hệ thống quản lý, kế hoạch thi công, an toàn và nhật ký công trình. Chủ đầu tư phải giám sát quá trình này, bao gồm cả việc theo dõi tiến độ, khối lượng và tổ chức các đợt nghiệm thu (công việc, giai đoạn, hoàn thành). Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu đối với các công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp hoặc ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng. Liên quan đến bàn giao và bảo trì, nghị định yêu cầu công trình phải được nghiệm thu đầy đủ và đảm bảo các điều kiện về môi trường, phòng cháy chữa cháy trước khi đưa vào sử dụng. Việc bàn giao công trình trong khu đô thị phải tuân thủ trình tự chặt chẽ giữa chủ đầu tư và bên tiếp nhận. Cuối cùng, công tác bảo hành và bảo trì được nhấn mạnh là trách nhiệm bắt buộc của các bên. Nhà thầu có trách nhiệm bảo hành, còn chủ sở hữu/quản lý phải thiết lập quy trình bảo trì, kế hoạch bảo trì định kỳ và tổ chức thực hiện kiểm tra, quan trắc, đánh giá an toàn công trình để duy trì tuổi thọ và sự vận hành ổn định của công trình.
Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về hợp đồng xây dựng.
Nghị định áp dụng cho các bên giao thầu, bên nhận thầu và các tổ chức, cá nhân liên quan và có phạm vi điều chỉnh bao gồm: phân loại, nội dung và hồ sơ hợp đồng; biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; phương pháp và thủ tục sửa đổi; tạm dừng, chấm dứt, cũng như thanh toán, quyết toán và thanh lý hợp đồng xây dựng.
Về nguyên tắc giao kết và quản lý, các bên phải đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa hợp đồng chính và hợp đồng thầu phụ. Việc quản lý hợp đồng bao gồm: quản lý tiến độ, chất lượng, khối lượng, giá, an toàn lao động và các nội dung khác. Các kiến nghị, đề xuất, yêu cầu trong quá trình thực hiện phải được thực hiện bằng văn bản (bao gồm thông điệp dữ liệu điện tử). Đối với dự án đầu tư công và dự án PPP, bên nhận được kiến nghị phải trả lời bằng văn bản trong vòng 07 ngày làm việc. Đặc biệt, đối với các dự án khẩn cấp, cấp bách, chủ đầu tư được quyền tự quyết định việc giao kết và quản lý hợp đồng để đảm bảo tính kịp thời, linh hoạt. Nghị định phân loại hợp đồng xây dựng theo tính chất công việc (tư vấn, thi công, cung cấp vật tư thiết bị, EP, EC, PC, EPC, chìa khóa trao tay, hợp đồng khác) và theo hình thức giá hợp đồng (trọn gói, đơn giá cố định, đơn giá điều chỉnh, theo thời gian, chi phí cộng phí, kết quả đầu ra, tỷ lệ phần trăm, hỗn hợp). Nội dung hợp đồng cần bao gồm: thông tin chi tiết về các bên, loại hợp đồng, căn cứ giao kết và phạm vi công việc cụ thể. Các bên phải thỏa thuận về chất lượng, nghiệm thu và bàn giao sản phẩm tuân thủ quy định pháp luật. Về tài chính, mức tạm ứng hợp đồng không được vượt quá 30% giá hợp đồng tại thời điểm giao kết (trừ trường hợp được người quyết định đầu tư cho phép) và được thu hồi dần qua các lần thanh toán, đảm bảo thu hồi hết khi giá trị thanh toán cộng dồn đạt 80% giá hợp đồng. Đối với bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, các bên ưu tiên áp dụng biện pháp bảo đảm với mức bảo đảm từ 2% đến 10% giá hợp đồng. Việc thanh toán được thực hiện theo thỏa thuận nhưng thời hạn thanh toán tối đa là 14 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (trừ vốn ODA thực hiện theo điều ước quốc tế). Bên giao thầu phải trả lãi đối với số tiền chậm thanh toán. Nghị định cũng quy định chi tiết về việc sửa đổi, tạm dừng và chấm dứt hợp đồng. Việc sửa đổi hợp đồng phải thông qua quy trình thương thảo và ký kết văn bản sửa đổi, đảm bảo các căn cứ pháp lý và đánh giá tác động. Hợp đồng có thể bị tạm dừng hoặc chấm dứt khi xảy ra vi phạm nghiêm trọng hoặc các trường hợp đã thỏa thuận, với thời hạn thông báo thường là 28 ngày. Khi kết thúc, các bên thực hiện quyết toán và thanh lý hợp đồng theo trình tự quy định.
Nghị định số 212/2026/NĐ-CP ngày 17/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết về việc xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, cùng với các quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng.
Nghị định áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước liên quan đến các hoạt động này, ngoại trừ các công trình xây dựng quốc phòng, an ninh, cơ yếu và bí mật nhà nước. Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng được xây dựng tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc nhằm phục vụ quản lý nhà nước, với Bộ Xây dựng là cơ quan chủ quản. Hệ thống này bao gồm dữ liệu về quy hoạch đô thị và nông thôn, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng, định mức và giá xây dựng, cũng như thông tin về năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức và cá nhân. Việc tạo lập, cập nhật dữ liệu được thực hiện thông qua các kết quả giải quyết thủ tục hành chính, đảm bảo tính pháp lý, đồng bộ và được gắn mã định danh duy nhất cho mỗi đối tượng quản lý. Dữ liệu trong hệ thống có giá trị khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật và được thực hiện kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác.
Về năng lực hoạt động xây dựng, Nghị định quy định chi tiết về chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân, bao gồm điều kiện, thẩm quyền, trình tự cấp, thu hồi và phạm vi hoạt động. Cá nhân hành nghề xây dựng phải đáp ứng các điều kiện về chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và được quản lý thông qua mã số chứng chỉ hành nghề liên kết với mã định danh cá nhân trên hệ thống. Đối với các tổ chức, Nghị định yêu cầu tự công khai thông tin năng lực hoạt động xây dựng trên trang thông tin điện tử của hệ thống. Nghị định cũng quy định cụ thể về việc cấp giấy phép hoạt động xây dựng cho nhà thầu nước ngoài, yêu cầu nhà thầu phải có quyết định trúng thầu, thực hiện liên danh hoặc sử dụng nhà thầu phụ Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Nhà thầu nước ngoài phải lập văn phòng điều hành và thực hiện các nghĩa vụ về thuế, lao động, bảo hiểm, cũng như các quy định về quản lý chất lượng công trình. Cuối cùng, Nghị định phân định rõ trách nhiệm của Bộ Xây dựng, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xây dựng, vận hành, cập nhật và khai thác hệ thống. Các quy định chuyển tiếp đảm bảo việc thực hiện liên tục các thủ tục hành chính đã phát sinh, đồng thời Nghị định cũng nêu rõ các hình thức xử lý vi phạm đối với hành vi tạo lập, cập nhật dữ liệu không đúng quy định.
Nghị định số 217/2026/NĐ-CP ngày 19/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng năm 2025 về quản lý hoạt động xây dựng.
Nghị định này có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát các quy định từ giai đoạn chuẩn bị dự án, khảo sát, thiết kế, thẩm định đến quản lý dự án và các thủ tục hành chính, áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng tại Việt Nam.
Về quản lý dự án, Nghị định xác định rõ trình tự đầu tư xây dựng bao gồm ba giai đoạn: chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng. Dự án được phân loại theo mục đích, công năng phục vụ và quy mô, với những yêu cầu riêng cho các dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài hay dự án đối tác công tư (PPP). Đặc biệt, việc ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) được đẩy mạnh, bắt buộc đối với các công trình mới từ cấp II trở lên, nhằm hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước về xây dựng. Các thủ tục hành chính được thực hiện theo nguyên tắc số hóa, đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu và giảm thiểu các giấy tờ không cần thiết. Trong giai đoạn thực hiện, công tác khảo sát xây dựng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lập, phê duyệt nhiệm vụ và phương án kỹ thuật. Đối với thiết kế xây dựng, Nghị định quy định chi tiết về các bước thiết kế (một bước, hai bước, ba bước), nội dung của từng loại thiết kế (sơ bộ, cơ sở, FEED, kỹ thuật, bản vẽ thi công) và trách nhiệm của các bên liên quan trong việc quản lý chất lượng thiết kế. Chủ đầu tư giữ vai trò quan trọng trong việc phê duyệt thiết kế và chịu trách nhiệm về chất lượng, trong khi các nhà thầu tư vấn phải đảm bảo tính chuyên môn và pháp lý cho sản phẩm thiết kế của mình. Quy trình thẩm định và phê duyệt dự án cũng được quy định chặt chẽ, từ việc xác định quy hoạch làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đến thẩm quyền thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng và Hội đồng thẩm định. Nghị định phân định rõ thẩm quyền thẩm định dự án quan trọng quốc gia, dự án PPP và các dự án đầu tư kinh doanh, đồng thời hướng dẫn chi tiết cách thức xử lý khi có điều chỉnh dự án hoặc thay đổi thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt. Cuối cùng, về hình thức quản lý dự án, Nghị định nhấn mạnh vai trò của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng như là đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời cho phép linh hoạt lựa chọn các hình thức quản lý khác tùy thuộc vào quy mô và tính chất đặc thù của từng dự án cụ thể.
Nghị định số 220/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 22/6/2026, tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP liên quan đến bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng.
Nghị định xác định rõ chủ đầu tư có trách nhiệm mua bảo hiểm bắt buộc cho các công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn và lợi ích cộng đồng, công trình có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao, hoặc các công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp.
Về số tiền bảo hiểm, Nghị định quy định số tiền bảo hiểm tối thiểu phải bằng giá trị đầy đủ của công trình khi hoàn thành, bao gồm toàn bộ vật liệu, nhân công, thiết bị, cước phí, các loại thuế, phí và các hạng mục khác do chủ đầu tư cung cấp; đồng thời, số tiền này không được thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng. Bên mua bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi có điều chỉnh giá trị công trình. Ngoài ra, Nghị định loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với các tổn thất do hiện tượng mục rữa trong điều kiện bình thường và các hiện tượng kết tạo vẩy cứng như han gỉ, đóng cặn. Các quy định về phí bảo hiểm và mức khấu trừ cũng được điều chỉnh chi tiết. Đối với công trình có giá trị dưới 1.000 tỷ đồng, phí bảo hiểm và mức khấu trừ được áp dụng theo các phụ lục cụ thể tùy thuộc vào việc có bao gồm phần lắp đặt thiết bị hay không. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể điều chỉnh phí tăng hoặc giảm tối đa 25% dựa trên đánh giá rủi ro, nhưng phải thiết lập quy trình thẩm định rõ ràng, có sự xác nhận của chuyên gia tính toán và được kiểm toán nội bộ hàng năm. Đặc biệt, doanh nghiệp bảo hiểm bị cấm giảm phí đối với các công trình tại vùng có nguy cơ cao về thiên tai hoặc khi doanh nghiệp có lỗ thuần nghiệp vụ bảo hiểm tài sản trong 3 năm liên tiếp. Nghị định nhấn mạnh trách nhiệm của các bên liên quan: chủ đầu tư có quyền giao nhà thầu mua bảo hiểm nhưng vẫn chịu trách nhiệm giám sát, đảm bảo công trình được bảo hiểm đầy đủ; nhà thầu khảo sát, thiết kế và thi công có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin giá trị công trình để xác định phí bảo hiểm. Trong trường hợp thời gian thi công hoặc bảo hành bị kéo dài, các bên phải thỏa thuận về mức phí bảo hiểm bổ sung. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026; các hợp đồng đã giao kết trước đó tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận cũ trừ khi các bên thống nhất sửa đổi, bổ sung theo quy định mới. Ngoài ra, văn bản cũng cập nhật các thuật ngữ, thay thế một số mẫu biểu, phụ lục nhằm đồng bộ hóa quy định pháp luật.
Thông tư số 32/2026/TT-BXD ngày 22/6/2026 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 207/2026/NĐ-CP về quản lý chất lượng, thi công và bảo trì công trình xây dựng.
Thông tư này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Về công tác thí nghiệm và quan trắc trong thi công, nhà thầu thi công chịu trách nhiệm lập kế hoạch thí nghiệm dựa trên hồ sơ thiết kế và hợp đồng, trong đó cần làm rõ đối tượng, phép thử và phòng thí nghiệm chuyên ngành; việc điều chỉnh kế hoạch này phải được chủ đầu tư chấp thuận. Đối với công tác quan trắc trong thi công, nhà thầu phải lập đề cương trình chủ đầu tư phê duyệt, bao gồm các nội dung về nhân lực, thiết bị và phương pháp phân tích; nếu kết quả vượt ngưỡng cho phép hoặc có dấu hiệu bất thường, nhà thầu phải báo cáo ngay để xử lý, và trong trường hợp cần thiết, chủ đầu tư có quyền thuê đơn vị quan trắc độc lập để đánh giá lại.
Thông tư cũng quy định chi tiết về hoạt động kiểm định và giám định xây dựng. Kiểm định được thực hiện để đánh giá chất lượng, xác định nguyên nhân hư hỏng hoặc sự cố, với trình tự bắt đầu từ việc lập, phê duyệt nhiệm vụ và đề cương kiểm định, sau đó là thực hiện và lập báo cáo kết quả. Đặc biệt, khi kiểm định theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức kiểm định phải đảm bảo tính độc lập với chủ đầu tư và các nhà thầu liên quan. Đối với công tác giám định, cơ quan có thẩm quyền sẽ chủ trì, thông báo nội dung tới các bên, yêu cầu cung cấp tài liệu và có thể chỉ định đơn vị kiểm định hỗ trợ để đưa ra kết luận về trách nhiệm và biện pháp khắc phục. Liên quan đến bảo trì công trình, Thông tư quy định về việc quan trắc đối với các công trình thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Xây dựng, bao gồm các công trình dân dụng, công nghiệp nhẹ, hạ tầng kỹ thuật và sản xuất vật liệu xây dựng theo danh mục tại Phụ lục. Quy trình bảo trì phải xác định rõ phạm vi quan trắc (đối với kết cấu chịu lực chính), thông số, tần suất và giá trị giới hạn. Cuối cùng, đối với các công trình hết thời hạn sử dụng theo thiết kế, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý có trách nhiệm lập báo cáo về tình trạng và dự kiến phương án xử lý, sau đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện công bố thông tin trên trang thông tin điện tử.
Quyết định số 1041/QĐ-BXD ngày 26/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng công bố "Hướng dẫn xác định khối lượng công trình" nhằm phục vụ công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, áp dụng cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan tham khảo để thực hiện xác định khối lượng xây dựng công trình.
Về nguyên tắc chung, khối lượng cần xác định phải phù hợp với mức độ chi tiết của hồ sơ thiết kế và giai đoạn đầu tư, căn cứ trên hồ sơ dự án, chỉ dẫn kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng, cũng như dữ liệu từ mô hình thông tin công trình (BIM) và các công cụ số. Việc xác định khối lượng phải đảm bảo tính thống nhất, tránh trùng lặp, đơn vị tính phải tương ứng với phương pháp xác định chi phí áp dụng, và kết quả phải thể hiện rõ căn cứ cũng như phương pháp xác định để phục vụ công tác kiểm tra, rà soát. Hướng dẫn phân định việc xác định khối lượng theo các giai đoạn hình thành chi phí đầu tư xây dựng. Đối với giai đoạn lập sơ bộ tổng mức đầu tư, khối lượng được xác định từ báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, phương án thiết kế sơ bộ và công nghệ dự kiến. Ở giai đoạn lập tổng mức đầu tư, khối lượng căn cứ vào báo cáo nghiên cứu khả thi, có thể sử dụng dữ liệu từ công trình tương tự nếu thiếu cơ sở. Riêng giai đoạn lập dự toán xây dựng, khối lượng phải được xác định từ hồ sơ thiết kế triển khai (thiết kế kỹ thuật, bản vẽ thi công) hoặc trích xuất trực tiếp từ mô hình BIM, phần mềm và công cụ số. Chi tiết các loại khối lượng theo từng giai đoạn được hệ thống hóa tại Phụ lục I của hướng dẫn. Hướng dẫn cũng quy định chi tiết cách xác định theo các loại hình khác nhau, bao gồm theo quy mô công trình (diện tích, chiều dài, công suất), theo hệ thống kỹ thuật và dây chuyền công nghệ, theo bộ phận hoặc đơn vị kết cấu công trình, và theo nhóm công tác hoặc công tác xây dựng. Việc mô tả các thông tin ảnh hưởng đến chi phí như tính chất kết cấu, điều kiện xây dựng, hay mức độ tự động hóa là yêu cầu bắt buộc khi xác định theo các phương pháp này. Các cặp loại khối lượng tương ứng với giá xây dựng và đơn vị tính cụ thể được quy định tại Phụ lục II. Cuối cùng, hướng dẫn khuyến khích và quy định rõ việc trích xuất khối lượng từ mô hình BIM hoặc các phần mềm, công cụ số khác. Nếu dữ liệu trích xuất từ các công cụ này đáp ứng được các yêu cầu về khả năng kiểm tra, rà soát, phản ánh đầy đủ phạm vi công việc và có đủ thông tin, thì khối lượng đó được sử dụng trực tiếp để xác định chi phí mà không bắt buộc phải thực hiện phương pháp đo bóc thủ công từ hồ sơ thiết kế hai chiều.
Thông tư số 33/2026/TT-BXD ngày 25/6/2026 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết về việc đánh giá an toàn công trình trong quá trình khai thác và sử dụng đối với các công trình thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Xây dựng.
Đối tượng áp dụng của thông tư bao gồm: chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình, các tổ chức kiểm định xây dựng thực hiện đánh giá và các cơ quan, cá nhân có liên quan. Thông tư đưa ra các cấp độ đánh giá: cấp độ 1 thực hiện kiểm tra trực quan các kết cấu chịu lực chính và bộ phận nguy cơ cao; cấp độ 2 sử dụng các phương pháp phân tích, kiểm tra kết cấu dựa trên hồ sơ, tài liệu và khảo sát hiện trạng.
Về thời điểm và tần suất, đánh giá lần đầu được thực hiện không quá 10 năm kể từ khi nghiệm thu hoàn thành, các lần tiếp theo có tần suất không quá 05 năm/lần, trừ khi pháp luật chuyên ngành hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật có quy định khác. Trình tự đánh giá bao gồm cấp độ 1 và cấp độ 2; trong đó cấp độ 2 được áp dụng khi kết quả cấp độ 1 có nghi ngờ về an toàn hoặc xuất hiện dấu hiệu bất thường, và được thực hiện qua hai giai đoạn là sơ bộ và chi tiết. Công tác đánh giá cấp độ 1 bao gồm việc nghiên cứu hồ sơ (hệ kết cấu, tải trọng, ảnh hưởng cải tạo) và kiểm tra trực quan các khuyết tật, hư hỏng, biến dạng cũng như tải trọng thực tế. Đánh giá cấp độ 2 giai đoạn sơ bộ tập trung vào khảo sát hiện trạng bằng phương pháp trực quan kết hợp thiết bị đơn giản để kết luận về mức độ nghiêm trọng hoặc kiến nghị thực hiện đánh giá chi tiết. Đánh giá chi tiết đòi hỏi thực hiện rà soát kỹ lưỡng hồ sơ, khảo sát chi tiết kết cấu, xác định đặc trưng vật liệu, khảo sát địa chất, phân tích kết cấu và kiểm tra khả năng chịu lực cũng như điều kiện sử dụng bình thường. Kết quả đánh giá phải được lập thành báo cáo, kèm theo các hồ sơ liên quan (đề cương, bản vẽ, ảnh chụp, kết quả thí nghiệm/phân tích) và được chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng xác nhận để lưu trữ. Thông tư cũng cho phép thỏa thuận lập hồ sơ đánh giá dưới dạng điện tử theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử. Đối với các công trình đang thực hiện đánh giá dang dở trước thời điểm thông tư có hiệu lực, quy định cũ sẽ tiếp tục áp dụng cho đến khi hoàn thành, còn các lần đánh giá sau đó phải tuân thủ thông tư này.
Thông tư số 34/2026/TT-BXD ngày 25/6/2026 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết về cấp công trình xây dựng phục vụ quản lý hoạt động xây dựng.
Thông tư này áp dụng cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động xây dựng tại Việt Nam, thay thế cho Thông tư số 06/2021/TT-BXD và một số quy định liên quan trước đó.
Việc xác định cấp công trình được dựa trên hai nhóm tiêu chí chính: mức độ quan trọng, quy mô công suất (theo Phụ lục I) và quy mô kết cấu (theo Phụ lục II). Đối với một công trình độc lập, cấp công trình là cấp cao nhất được xác định từ hai nhóm tiêu chí này. Trong trường hợp dự án là một tổ hợp các công trình hoặc dây chuyền công nghệ có nhiều hạng mục, cấp công trình sẽ được xác định theo Phụ lục I nếu có quy định cụ thể; nếu không, cấp công trình được xác định theo cấp của công trình chính có cấp cao nhất trong tổ hợp đó. Đối với các công trình hiện hữu được sửa chữa, cải tạo hoặc nâng cấp, cấp công trình sẽ được xác định lại nếu việc sửa chữa làm thay đổi các tiêu chí phân cấp ban đầu. Thông tư cũng đưa ra các nguyên tắc cụ thể khi áp dụng cấp công trình để quản lý hoạt động xây dựng. Cấp công trình là cơ sở để thực hiện nhiều công tác quản lý quan trọng như: xác định thẩm quyền thẩm định dự án và cấp giấy phép xây dựng; xác định công trình thuộc diện miễn giấy phép xây dựng hoặc phải thi tuyển kiến trúc; quy định về chứng chỉ hành nghề, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM). Ngoài ra, cấp công trình còn được dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu lập chỉ dẫn kỹ thuật, quy trình bảo trì, quản lý chi phí đầu tư, thời hạn bảo hành, cũng như phục vụ công tác an toàn, kiểm tra nghiệm thu và xử lý công trình hết thời hạn sử dụng. Về hiệu lực chuyển tiếp, các dự án đã được quyết định đầu tư trước ngày Thông tư có hiệu lực sẽ tiếp tục thực hiện theo quy định tại thời điểm quyết định đầu tư. Đối với các dự án đã trình cơ quan chuyên môn thẩm định nhưng chưa có kết quả, việc xác định cấp công trình sẽ tuân theo quy định tại thời điểm trình. Nếu có điều chỉnh thiết kế làm thay đổi các tiêu chí quy mô, mức độ quan trọng kể từ ngày 01/7/2026, công trình sẽ phải được xác định lại cấp theo quy định tại Thông tư này. Các công việc như bảo trì, bảo dưỡng không làm thay đổi kết cấu chịu lực sẽ không thuộc phạm vi áp dụng của quy định phân cấp này.
Thông tư số 36/2026/TT-BXD ngày 26/6/2026 của Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết về nội dung, phương pháp xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Văn bản này quy định về cách xác định các loại chi phí trong dự án, bao gồm sơ bộ tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng, định mức, giá xây dựng và các chi phí quản lý dự án, tư vấn cũng như chi phí khác.
Về sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng, thông tư hướng dẫn xác định dựa trên suất vốn đầu tư hoặc các khoản mục chi phí thuộc sơ bộ tổng mức đầu tư, tùy thuộc vào mức độ chi tiết của hồ sơ thiết kế và báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Đối với tổng mức đầu tư xây dựng, thông tư quy định bao gồm các khoản mục chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng. Đặc biệt, chi phí xây dựng bao gồm cả chi phí cho các công trình tạm, phụ trợ phục vụ thi công, trong khi chi phí quản lý dự án được xác định để tổ chức và thực hiện các công việc quản lý cần thiết. Chi phí tư vấn xây dựng bao gồm nhiều hạng mục từ lập báo cáo, khảo sát, thiết kế đến thẩm tra và giám sát, còn chi phí khác bao gồm các khoản như rà phá bom mìn, bảo hiểm công trình, và các chi phí cần thiết khác để thực hiện dự án. Chi phí dự phòng được tính toán dựa trên khối lượng công việc phát sinh và yếu tố trượt giá. Việc điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng được thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng và Nghị định số 206/2026/NĐ-CP, với các nguyên tắc cụ thể cho từng trường hợp như dự án không có thay đổi, dự án đã phê duyệt dự toán hoặc có thay đổi nội dung, cũng như dự án đã quyết toán hợp đồng. Thông tư cũng hướng dẫn chi tiết về cách xác định và điều chỉnh dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu xây dựng và dự toán công việc xây dựng, đảm bảo các chi phí này phù hợp với tiến độ và biện pháp tổ chức thi công thực tế. Đối với quản lý định mức, giá xây dựng và chỉ số giá, các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng và rà soát định mức, sau đó báo cáo kết quả về Bộ Xây dựng. Sở Xây dựng có nhiệm vụ khảo sát, thu thập thông tin và công bố giá vật liệu, nhân công và giá ca máy định kỳ trên địa bàn, đồng thời cập nhật vào hệ thống dữ liệu quốc gia. Ngoài ra, thông tư nhấn mạnh việc xác định chỉ số giá xây dựng phải đảm bảo tính kịp thời, khách quan và phản ánh đúng xu hướng biến động của thị trường. Cuối cùng, thông tư quy định về trách nhiệm kiểm tra việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng của chủ đầu tư do người quyết định đầu tư thực hiện.
Thông tư số 37/2026/TT-BXD ngày 26/6/2026 của Bộ Xây dựng hướng dẫn phương pháp xác định định mức dự toán và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong đầu tư xây dựng.
Về định mức dự toán, Thông tư hướng dẫn chi tiết phương pháp xác định định mức mới, điều chỉnh định mức hiện có và quy trình rà soát, cập nhật hệ thống định mức. Định mức dự toán mới được xác định dựa trên thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện thi công, hoặc vận dụng từ công trình tương tự, hoặc phân tích từ định mức nước ngoài đối với công nghệ mới. Hồ sơ xác định định mức bao gồm bảng tổng hợp, các tài liệu kỹ thuật, phân tích đánh giá hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công và các phiếu khảo sát thực tế (nếu có). Việc điều chỉnh định mức được thực hiện khi định mức hiện hành không còn phù hợp với yêu cầu cụ thể của công trình. Hệ thống định mức phải được rà soát định kỳ để loại bỏ những quy định lạc hậu hoặc bổ sung các công nghệ mới.
Đối với quản lý giá vật liệu xây dựng, Sở Xây dựng có trách nhiệm chủ trì khảo sát, thu thập thông tin giá vật liệu trên địa bàn để đảm bảo tính khách quan và kịp thời. Sở Xây dựng xây dựng danh sách các đầu mối cung cấp thông tin, ban hành biểu mẫu và yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp thông tin chính xác, chịu trách nhiệm trước pháp luật. Giá công bố là giá bình quân trong kỳ, phản ánh mặt bằng phổ biến của thị trường sau khi đã được rà soát và chuẩn hóa. Về giá nhân công xây dựng, Thông tư quy định phương pháp xác định giá nhân công phù hợp với mặt bằng thị trường tại địa phương, đảm bảo không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Giá nhân công công bố bao gồm các khoản phụ cấp và bảo hiểm người lao động phải nộp, áp dụng cho thời gian làm việc bình thường (08 giờ/ngày). Trong giai đoạn chuyển tiếp, địa phương thực hiện chuyển đổi giá nhân công từ hệ thống cũ sang nhóm nhân công quy định tại Thông tư. Đối với các khu vực đặc thù như vùng sâu vùng xa, giá nhân công có thể được điều chỉnh nhưng không quá 2 lần giá vùng lân cận. Thông tư hướng dẫn phương pháp xác định giá ca máy và thiết bị thi công, bao gồm các khoản mục chi phí như khấu hao, sửa chữa, nhiên liệu, nhân công vận hành và chi phí khác. Các địa phương công bố giá ca máy dựa trên danh mục máy cần thiết và định mức hao phí. Đối với các loại máy chưa có quy định, giá ca máy được xác định thông qua khảo sát hoặc vận dụng từ các máy có tính năng tương tự. Thông tư cũng hướng dẫn chi tiết cách xác định giá thuê máy theo ca hoặc theo giờ để phục vụ công tác lập dự toán.
Thông tư số 38/2026/TT-BXD ngày 26/6/2026 của Bộ Xây dựng ban hành hệ thống định mức xây dựng.
Thông tư này quy định một số nội dung bao gồm: định mức dự toán khảo sát, xây dựng công trình, lắp đặt hệ thống kỹ thuật và máy móc thiết bị, thí nghiệm chuyên ngành, sửa chữa bảo dưỡng, định mức sử dụng vật liệu, cùng với định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn xây dựng.
Phụ lục I của Thông tư quy định chi tiết về định mức dự toán khảo sát xây dựng công trình. Nội dung này xác định mức hao phí về vật liệu, lao động và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác khảo sát từ giai đoạn chuẩn bị đến khi kết thúc, dựa trên các quy chuẩn kỹ thuật và điều kiện thi công cụ thể. Tập định mức này được phân thành 10 chương, bao gồm các công tác như: đào đất đá thủ công lấy mẫu thí nghiệm, thăm dò địa vật lý, khoan, đặt ống quan trắc mực nước ngầm, thí nghiệm tại hiện trường, và các công tác đo vẽ bản đồ. Đối với công tác đào đất đá thủ công để lấy mẫu thí nghiệm (Chương I), định mức áp dụng cho các bước từ chuẩn bị, đào xúc, lấy mẫu, lấp hố đào cho đến bàn giao, với các hệ số điều chỉnh dựa trên địa hình và độ khó. Các chương tiếp theo quy định chi tiết hao phí cho: công tác thăm dò địa vật lý (địa chấn, điện, từ) với các phương pháp máy đo chuyên dụng; công tác khoan khảo sát trên cạn và dưới nước bằng các phương pháp xoay bơm rửa hoặc thủ công, phân cấp theo độ sâu và loại đất đá; công tác đặt ống quan trắc mực nước ngầm; và các thí nghiệm tại hiện trường như xuyên tĩnh, xuyên động, cắt cánh, xuyên tiêu chuẩn (SPT), nén ngang, hút nước và ép nước. Các định mức này thường đi kèm với thuyết minh cụ thể, bảng hao phí chi tiết cho từng loại vật liệu, nhân công, ca máy và các hệ số điều chỉnh khi điều kiện thi công thay đổi so với quy định chuẩn.
Thông tư số 39/2026/TT-BXD ngày 26/6/2026 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung chi tiết trong Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Thông tư này áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, cơ yếu và bí mật nhà nước.
Về nguyên tắc chung, các đơn vị tham gia phải sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện trên Hệ thống. Dữ liệu phải được cập nhật, chuẩn hóa theo kết quả giải quyết thủ tục hành chính, đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và thống nhất với kết quả thủ tục thực tế. Việc cập nhật dữ liệu được phân quyền chặt chẽ; đối với các kết quả thủ tục do cơ quan nhà nước ban hành, cơ quan giải quyết thủ tục chịu trách nhiệm kiểm tra và phê duyệt dữ liệu trong vòng 05 ngày làm việc. Riêng đối với dữ liệu chuyên ngành do tổ chức, cá nhân ban hành, việc cập nhật và phê duyệt được thực hiện tự động trên Hệ thống trong thời hạn tương tự. Nội dung xây dựng Hệ thống thông tin bao gồm việc thu thập và tạo lập Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng và Cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Các dữ liệu cụ thể về quy hoạch đô thị và nông thôn, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng và năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức, cá nhân được chuẩn hóa thông qua mã định danh để liên kết và cập nhật xuyên suốt quá trình thực hiện thủ tục. Quy mô đầu tư xây dựng là trường dữ liệu quan trọng, được thu thập từ các kết quả như thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, cấp giấy phép xây dựng, thông báo khởi công, và nghiệm thu công trình. Đặc biệt, cá nhân hành nghề phải tự kê khai dữ liệu công việc, sau đó nhà thầu và chủ đầu tư sẽ thực hiện xác nhận thông tin này. Đối với dữ liệu định mức, giá xây dựng và chỉ số giá xây dựng, Các đơn vị được cấp tài khoản phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về quản lý, bảo mật và tính chính xác của dữ liệu. Cơ quan vận hành Hệ thống có trách nhiệm cấp tài khoản, kiểm tra đối chiếu dữ liệu và thực hiện các biện pháp khóa tài khoản nếu phát hiện vi phạm. Thông tư phân định trách nhiệm tổ chức thực hiện giữa các cấp. Bộ Xây dựng chủ trì quản lý, vận hành Hệ thống và bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm số hóa, cập nhật và quản lý dữ liệu thuộc phạm vi thẩm quyền, đồng thời ban hành quy chế nội bộ về việc khai thác và sử dụng dữ liệu này.
Thông tư số 40/2026/TT-BXD ngày 26/6/2026 của Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết về việc xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng.
Thông tư này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xác định chi phí bảo trì công trình, đặc biệt là các công trình sử dụng nguồn chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước và công trình thuộc dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đối với các nguồn vốn khác, chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng công trình có thể tự quyết định việc áp dụng, trong khi các công trình chuyên ngành có quy định riêng về bảo trì sẽ tuân theo pháp luật chuyên ngành.
Về cấu trúc chi phí, tổng chi phí bảo trì bao gồm ba nội dung chính: chi phí bảo dưỡng, chi phí sửa chữa và chi phí các công việc khác trong kế hoạch bảo trì. Chi phí bảo dưỡng và chi phí sửa chữa đều được xác định bằng cách lập dự toán bao gồm chi phí thực hiện, chi phí khác và chi phí dự phòng không quá 5%. Nếu hoạt động sửa chữa nằm ngoài phạm vi bảo trì thông thường, chủ sở hữu phải tổ chức lập, trình thẩm định và phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật hoặc dự án đầu tư xây dựng theo pháp luật về xây dựng. Đối với các công việc khác trong kế hoạch bảo trì, chi phí được tính toán cho từng nhiệm vụ cụ thể dựa trên định mức tỷ lệ phần trăm nhân với chi phí bảo dưỡng, sửa chữa trước thuế hoặc lập dự toán theo quy định. Thông tư cũng quy định chi phí quản lý của chủ sở hữu, chủ sử dụng công trình được xác định bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị chi phí bảo dưỡng và sửa chữa, với mức tối thiểu không thấp hơn 2.000.000 đồng. Về định mức và phương pháp xác định, các Bộ quản lý công trình chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng và ban hành định mức bảo trì theo thẩm quyền. Các đơn vị lập dự toán có thể áp dụng hoặc điều chỉnh định mức dựa trên hệ thống do cơ quan nhà nước ban hành, hoặc xây dựng mới nếu chưa có định mức phù hợp. Các yếu tố chi phí trực tiếp (vật liệu, nhân công, máy thi công) trong giá công tác bảo trì phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
ĐẤT ĐAI - NHÀ Ở
Thông tư số 31/2026/TT-BXD ngày 15/6/2026 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết về việc sửa đổi, bổ sung Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Nhà chung cư (QCVN 04:2021/BXD).
Thông tư tập trung thiết lập hệ thống quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt liên quan đến hạ tầng xe điện trong nhà chung cư, áp dụng cho cả công trình xây mới và hiện hữu. Đối với khu vực để xe điện, yêu cầu kỹ thuật ưu tiên bố trí tại các vị trí ngoài trời, trên mặt đất, sau đó mới đến các tầng hầm, đồng thời phải tách biệt khỏi khu vực để xe sử dụng nhiên liệu xăng, dầu bằng khoảng cách tối thiểu 2m hoặc vách ngăn không cháy. Các khu vực này phải được trang bị hệ thống báo cháy tự động, camera giám sát 24/24, hệ thống thông gió thoát khói, cùng cảnh báo khí CO và HF. Hệ thống điện và chiếu sáng phải đảm bảo công suất, đồng thời có biển báo và vạch kẻ sơn hướng dẫn an toàn.
Về khu vực sạc xe điện và khu vực đổi pin, Thông tư đặt ra các yêu cầu khắt khe về phòng cháy chữa cháy (PCCC) và an toàn vận hành. Khu vực sạc phải được phân vùng riêng biệt, giới hạn số lượng chỗ sạc trong mỗi khoang cháy (tùy thuộc vào vị trí tầng hầm hay tầng trên mặt đất), và phải có hệ thống chữa cháy tự động. Đối với khu vực sạc xe ô tô điện và xe máy điện, các khoang cháy cần được ngăn cách bằng tường ngăn cháy hoặc khoảng trống an toàn; diện tích khoang cháy cũng được quy định cụ thể nhằm hạn chế rủi ro. Hệ thống cấp điện cho khu vực sạc phải tách biệt với phụ tải tòa nhà và có thiết bị ngắt điện khẩn cấp. Riêng khu vực đổi pin, Thông tư giới hạn tổng dung lượng lưu trữ năng lượng (tối đa 100 kWh ngoài trời, 35 kWh ở tầng trên mặt đất và 18 kWh ở tầng hầm/bán hầm), yêu cầu duy trì khoảng cách an toàn với lối thoát nạn và các khu vực tập kết vật liệu dễ cháy. Thông tư bổ sung các quy định về quản lý và trách nhiệm đối với các hạng mục mới. Chủ đầu tư, ban quản trị và đơn vị vận hành phải đảm bảo các khu vực xe điện, sạc xe điện và đổi pin hoạt động đúng công năng và an toàn. Các thiết kế PCCC cho các hạng mục này nếu đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt trước thời điểm Thông tư có hiệu lực thì được tiếp tục thực hiện; tuy nhiên, các thiết kế chưa có các khu vực này hoặc thực hiện sau thời điểm Thông tư có hiệu lực đều phải rà soát và tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật mới. Cơ quan có thẩm quyền về PCCC chịu trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành, và mọi vướng mắc trong quá trình triển khai sẽ do Bộ Xây dựng hướng dẫn, xử lý.
CHỨNG KHOÁN – TÀI CHÍNH
Nghị định số 200/2026/NĐ-CP ngày 05/6/2026 của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.
Nghị định này áp dụng đối với các doanh nghiệp phát hành là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập tại Việt Nam và các chủ thể liên quan, không điều chỉnh việc chào bán trái phiếu ra công chúng. Các doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu phải tuân thủ nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về mục đích, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng trả nợ; đồng thời phải đảm bảo việc sử dụng vốn đúng với phương án đã công bố.
Về điều kiện và cơ chế phát hành, Nghị định quy định chi tiết các đặc tính cơ bản của trái phiếu như kỳ hạn, mệnh giá, lãi suất và hình thức phát hành. Doanh nghiệp có trách nhiệm minh bạch hóa thông tin, đảm bảo tính chính xác của hồ sơ và thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà đầu tư. Các tổ chức cung cấp dịch vụ như tư vấn hồ sơ, đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành và đại diện người sở hữu trái phiếu phải chịu trách nhiệm pháp lý trong phạm vi dịch vụ được cung cấp, đảm bảo tính độc lập và trung thực. Đặc biệt, nhà đầu tư phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và phải ký văn bản xác nhận đã tiếp cận đầy đủ hồ sơ trước khi giao dịch. Nghị định quy định cụ thể trình tự, thủ tục chào bán trái phiếu riêng lẻ tại thị trường trong nước, bao gồm yêu cầu về phương án phát hành, hồ sơ chào bán và chế độ báo cáo cho Sở giao dịch chứng khoán. Việc mua lại trái phiếu trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu phải tuân thủ các điều kiện cụ thể, trong đó doanh nghiệp bắt buộc phải mua lại trái phiếu khi có vi phạm pháp luật hoặc vi phạm phương án phát hành mà không thể khắc phục. Sau khi chào bán, trái phiếu phải được đăng ký và lưu ký tập trung tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, đồng thời phải đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp của Sở giao dịch chứng khoán. Đối với việc chào bán ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện về quản lý vay, trả nợ nước ngoài, tỷ lệ an toàn tài chính và các quy định tại thị trường phát hành. Hồ sơ đăng ký cần có xác nhận hạn mức vay thương mại nước ngoài từ Ngân hàng Nhà nước và các tài liệu liên quan đến việc chuyển đổi hoặc thực hiện chứng quyền (nếu có). Cuối cùng, Nghị định thiết lập khung pháp lý chặt chẽ về công bố thông tin, yêu cầu doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin trước đợt chào bán, kết quả chào bán, công bố định kỳ và công bố bất thường để đảm bảo tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.
THUẾ - PHÍ
Nghị định số 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ quy định về việc gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026.
Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh tế, lĩnh vực được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định, cũng như các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ theo quy định pháp luật. Đối với những đơn vị hoạt động đa ngành nghề trong đó có ngành thuộc diện được gia hạn, họ sẽ được gia hạn toàn bộ số thuế và tiền thuê đất phải nộp theo quy định.
Thời gian gia hạn được áp dụng cụ thể cho từng loại nghĩa vụ tài chính với thời hạn tối đa là 05 tháng, không áp dụng cho số thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu. Cụ thể, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được gia hạn từ 02 đến 05 tháng tùy theo kỳ tính thuế tháng hoặc quý, với thời hạn nộp muộn nhất là ngày 30/12/2026. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý II và quý III năm 2026, thời gian gia hạn lần lượt là 03 tháng và 02 tháng, chậm nhất đến ngày 30/12/2026. Riêng tiền thuê đất, 50% số tiền phải nộp năm 2026 (kỳ thứ nhất) được gia hạn 05 tháng, thời hạn nộp chậm nhất là ngày 02/11/2026. Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ làm tăng số thuế phải nộp trước khi hết thời hạn gia hạn thì số thuế tăng thêm này cũng được gia hạn, ngược lại, nếu khai bổ sung sau thời hạn này thì không được gia hạn. Về trình tự thực hiện, người nộp thuế vẫn phải thực hiện kê khai thuế theo quy định hiện hành nhưng chưa phải nộp số thuế phát sinh trong các kỳ được gia hạn. Người nộp thuế cần gửi Văn bản đề nghị gia hạn (theo Mẫu tại Phụ lục II) cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp bằng phương thức điện tử, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính cùng thời điểm nộp hồ sơ khai thuế, chậm nhất là ngày 02/11/2026. Cơ quan thuế sẽ tự động cập nhật dữ liệu về thời hạn nộp thuế trên hệ thống quản lý và không cần thông báo cho người nộp thuế về việc chấp nhận gia hạn. Nếu quá hạn nộp văn bản đề nghị, người nộp thuế sẽ không được hưởng chính sách gia hạn này. Ngoài ra, Nghị định quy định không tính tiền chậm nộp đối với các khoản thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong khoảng thời gian gia hạn tương ứng. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành đến hết ngày 30/12/2026. Sau thời hạn này, việc nộp thuế và tiền thuê đất sẽ thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý thuế hiện hành. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm tổ chức triển khai và xử lý các vướng mắc phát sinh, đồng thời các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc Nghị định này.
Bài viết này có hữu ích?