Bản Tin Pháp Luật 04/2026
Chính phủ ban hành Quyết định số 776/QĐ-TTg 2026 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thương mại điện tử.

ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG
Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP ngày 07/04/2026 của Chính phủ Quy định về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng - Chuyển giao.
Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP quy định các cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng - Chuyển giao (BT) đã thực hiện trước khi Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư 2020 có hiệu lực (dự án BT chuyển tiếp). Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan nhà nước, nhà đầu tư và các tổ chức, cá nhân liên quan đến danh mục dự án cụ thể ban hành kèm theo Nghị quyết. Nguyên tắc cốt lõi là bảo đảm đúng thẩm quyền, tuân thủ kết luận thanh tra, bảo vệ lợi ích chung và chỉ tháo gỡ khó khăn do lỗi của cơ quan nhà nước, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi trục lợi hoặc tham nhũng.
Về điều kiện áp dụng, các dự án BT chuyển tiếp phải được tổng hợp trên Hệ thống thông tin quốc gia về cơ sở dữ liệu các dự án đầu tư có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài (gọi là Hệ thống 751) (ngoại trừ các dự án thuộc Bộ Quốc phòng tại Phụ lục I) và phải có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc văn bản của cấp có thẩm quyền xác nhận không phải thanh tra. Đối với các dự án có hợp đồng phù hợp pháp luật tại thời điểm ký kết, Nhà nước sẽ tiếp tục thanh toán bằng ngân sách, quỹ đất hoặc tài sản công theo đúng thỏa thuận. Trường hợp thanh toán bằng ngân sách, giá trị không được vượt quá tổng mức đầu tư và nhà đầu tư được hưởng lãi vay sau xây dựng cùng lợi nhuận hợp lý. Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng quỹ đất, cơ quan chức năng sẽ thực hiện bù trừ chênh lệch giữa giá trị quyết toán công trình và giá trị quỹ đất thực tế. Đối với các dự án có nội dung hợp đồng chưa phù hợp pháp luật do lỗi của cơ quan nhà nước, Nghị quyết cho phép rà soát và thỏa thuận sửa đổi hợp đồng để tiếp tục thực hiện nếu dự án mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và không gây thất thoát tài sản nhà nước. Trong trường hợp các bên không tiếp tục thực hiện, hợp đồng sẽ bị chấm dứt trước thời hạn và Nhà nước bố trí ngân sách hoàn trả chi phí đầu tư xây dựng dựa trên kết quả kiểm toán. Ngược lại, nếu lỗi thuộc về nhà đầu tư, hợp đồng sẽ bị chấm dứt mà không được ngân sách thanh toán chi phí. Đặc biệt, Nghị quyết quy định thời điểm xác định giá đất để thanh toán là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất; nếu Nhà nước chậm giao đất, nhà đầu tư được hưởng thêm khoản tiền tương đương lãi vay theo hợp đồng. Về tổ chức thực hiện, các Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về tính chính xác của hồ sơ dự án, thực hiện rà soát ranh giới, giá đất và ban hành quyết định giá đất cụ thể để hoàn thành nghĩa vụ tài chính trước ngày 31/12/2027. Bộ Tài chính có nhiệm vụ quản lý Hệ thống 751 và định kỳ báo cáo Thủ tướng, trong khi Kiểm toán nhà nước phối hợp kiểm toán giá trị quyết toán công trình và quỹ đất thanh toán. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 07/04/2026 đến hết ngày 31/12/2027 và cho phép miễn trách nhiệm đối với những người tham gia tháo gỡ khó khăn nếu đã tuân thủ đúng quy trình và không vụ lợi.
Thông tư số 44/2026/TT-BTC ngày 22/04/2026 của Bộ Tài chính quy định về mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư; chế độ báo cáo trực tuyến và quản lý vận hành hệ thống thông tin về giám sát, đánh giá đầu tư.
Thông tư 44/2026/TT-BTC nhằm thiết lập một khung pháp lý đồng bộ về việc mẫu hóa các báo cáo giám sát và đánh giá đầu tư, đồng thời chuẩn hóa quy trình báo cáo trực tuyến trên Hệ thống thông tin quốc gia. Phạm vi điều chỉnh của Thông tư bao quát hầu hết các loại hình dự án từ đầu tư công, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi, đến các dự án theo phương thức đối tác công tư (PPP) và các dự án thực hiện theo Luật Đầu tư. Đối tượng áp dụng là tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động lập báo cáo, quản lý và vận hành hệ thống thông tin nghiệp vụ trên toàn quốc.
Nội dung trọng tâm của Thông tư tập trung vào việc ban hành 19 mẫu báo cáo chuyên biệt, phục vụ cho từng giai đoạn và loại hình đầu tư cụ thể. Đối với dự án đầu tư công, các mẫu báo cáo trải dài từ giai đoạn đánh giá ban đầu, giám sát định kỳ hằng năm đến đánh giá kết thúc và đánh giá tác động sau khi dự án đi vào vận hành. Các dự án PPP và dự án theo Luật Đầu tư cũng có hệ thống mẫu biểu riêng để theo dõi sát sao tình hình thực hiện hợp đồng, năng lực khai thác và nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách nhà nước. Đặc biệt, Thông tư còn quy định mẫu báo cáo dành cho Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng nhằm phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với các công trình tại địa phương. Về chế độ vận hành, Thông tư quy định việc cập nhật thông tin và báo cáo phải thực hiện trực tuyến trên Hệ thống thông tin nghiệp vụ của Bộ Tài chính tại địa chỉ https://nghiepvugiamsatdautu.mof.gov.vn/. Các chủ đầu tư và nhà đầu tư có trách nhiệm cập nhật thông tin dự án trong vòng 07 ngày làm việc kể từ khi có quyết định phê duyệt hoặc khi có các điều chỉnh phát sinh về thiết kế, dự toán và hợp đồng. Định kỳ hằng tháng vào ngày 25, các đơn vị phải cập nhật số liệu giải ngân và tình hình thực hiện thực tế lên hệ thống. Khi các văn bản báo cáo đã được xác thực bằng chữ ký số chuyên dùng hoặc chữ ký số công cộng trên hệ thống, đơn vị báo cáo không cần phải gửi thêm bản giấy cho cơ quan quản lý. Trách nhiệm quản lý và thực hiện được phân định rõ rệt giữa các đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các cơ quan trung ương, địa phương. Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số chịu trách nhiệm quản lý hạ tầng kỹ thuật, cấp tài khoản và đào tạo sử dụng hệ thống, trong khi Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư chủ trì việc đôn đốc, kiểm tra và tổng hợp báo cáo toàn quốc để trình Thủ tướng Chính phủ. Các chủ đầu tư, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính chính xác và trung thực của dữ liệu đã nhập. Những trường hợp không tuân thủ nghiêm túc chế độ báo cáo sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Thông tư này chính thức thay thế cho Thông tư số 05/2023/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư kể từ ngày 22/04/2026.
ĐẤT ĐAI - NHÀ Ở
Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/04/2026 của Quốc hội cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Nghị quyết số 29/2026/QH16 quy định các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024 và tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết tập trung vào các sai phạm vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh mà không có yếu tố tham nhũng. Nguyên tắc xuyên suốt là không hợp pháp hóa sai phạm, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân, đồng thời phân định rõ trách nhiệm cá nhân với các giải pháp khắc phục để sớm đưa nguồn lực đất đai vào khai thác hiệu quả.
Về chính sách hình sự và kỷ luật, Nghị quyết quy định không truy cứu hoặc miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp vi phạm vì lợi ích chung, không tham nhũng và đã khắc phục toàn bộ hậu quả. Đối với các dự án đang triển khai nhưng chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan, tổ chức, cá nhân có thể được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc tạm đình chỉ vụ án trong tối đa 02 năm để tập trung khắc phục sai phạm theo cam kết. Nếu hoàn thành khắc phục sau thời hạn này, người vi phạm sẽ được đình chỉ điều tra hoặc miễn chấp hành hình phạt; trường hợp không khắc phục được toàn bộ sẽ căn cứ vào tỷ lệ khắc phục thực tế để giảm nhẹ trách nhiệm. Đối với cán bộ, công chức, Nghị quyết cũng cho phép miễn hoặc chưa xem xét xử lý kỷ luật dưới những điều kiện tương tự nhằm khuyến khích tinh thần khắc phục hậu quả. Trong việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án, Nghị quyết đưa ra hướng xử lý cụ thể cho từng loại vướng mắc pháp lý. Với dự án cấp Giấy chứng nhận sai quy định (như đất ở không hình thành đơn vị ở), nếu phù hợp quy hoạch đất ở, chủ đầu tư phải nộp phần chênh lệch tiền sử dụng đất để được điều chỉnh mục đích sử dụng; nếu không phù hợp, đất sẽ được chuyển sang loại đất thương mại, dịch vụ. Đối với các dự án vướng mắc về lựa chọn nhà đầu tư hoặc thu hồi đất không đúng quy định, Nhà nước cho phép tiếp tục thực hiện nếu dự án phù hợp quy hoạch, không có tranh chấp và chủ đầu tư đảm bảo năng lực tài chính. Đặc biệt, các công trình lưới điện đang triển khai nhưng thiếu thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư sẽ không phải thực hiện lại thủ tục này mà lấy quyết định phê duyệt dự án làm căn cứ hoàn thiện các hồ sơ đất đai, xây dựng. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026. Các quy định về xử lý vi phạm hình sự, kỷ luật có thời hạn thực hiện đến hết ngày 01/5/2029, trong khi các chính sách tháo gỡ khó khăn cho dự án tồn đọng được kéo dài đến hết ngày 01/5/2031. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết và rà soát lập danh sách các vụ việc thuộc diện áp dụng. Đáng chú ý, Nghị quyết quy định cơ chế bảo vệ (miễn trách nhiệm) cho những người tham gia thực hiện nhiệm vụ này nếu họ tuân thủ đúng quy trình, không vụ lợi nhưng vẫn xảy ra thiệt hại ngoài ý muốn.
THUẾ - PHÍ
Thông tư số 41/2026/TT-BTC ngày 06/04/2026 của Bộ Tài chính Hướng dẫn việc kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóa.
Thông tư số 41/2026/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 06/4/2026 nhằm hướng dẫn chi tiết việc kê khai, khấu trừ, nộp và quyết toán thuế đối với các hoạt động trên thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam trên cơ sở căn cứ nhiều luật quan trọng như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT), Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và đặc biệt là Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa. Đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, các tổ chức thành lập theo pháp luật Việt Nam có hoạt động giao dịch tài sản mã hóa và các cá nhân liên quan.
Theo đó, các tổ chức cung cấp dịch vụ và tổ chức Việt Nam có hoạt động kinh doanh tài sản mã hóa phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Về thuế GTGT, hồ sơ và mẫu biểu khai thuế được thực hiện theo các quy định hiện hành về quản lý thuế và các thông tư hướng dẫn liên quan. Đối với thuế TNDN, các tổ chức phải tự xác định số thuế tạm nộp hàng quý và thực hiện quyết toán thuế năm chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ khi kết thúc năm tài chính. Toàn bộ quy trình nộp hồ sơ khai thuế phải được thực hiện thông qua phương thức điện tử gửi tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đóng vai trò trọng yếu trong việc thu thuế khi có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay cho các đối tượng khác. Cụ thể, tổ chức này phải khấu trừ thuế TNDN đối với các tổ chức nước ngoài và khấu trừ thuế TNCN đối với cả cá nhân cư trú và không cư trú phát sinh từ mỗi giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa thành công. Thời điểm khấu trừ được xác định ngay khi giao dịch được xác nhận thành công trên hệ thống. Tỷ lệ khấu trừ thuế được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 32/2026/TT-BTC. Hàng tháng, tổ chức cung cấp dịch vụ phải nộp hồ sơ kê khai số thuế đã khấu trừ bằng phương thức điện tử, chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo. Hồ sơ bao gồm Tờ khai khấu trừ thuế (Mẫu số 01/TSMH) và Bảng kê chi tiết (Mẫu số 01-1/BK-TSMH). Bên cạnh đó, các tổ chức này có trách nhiệm quản lý tài khoản nhà đầu tư, lưu trữ dữ liệu giao dịch chính xác và cấp chứng từ khấu trừ thuế điện tử hàng năm cho người nộp thuế. Hệ thống công nghệ thông tin của tổ chức cung cấp dịch vụ phải đảm bảo khả năng trích xuất và kết nối dữ liệu theo định dạng chuẩn với cơ quan thuế để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 06/04/2026 và được triển khai theo thời gian thực hiện thí điểm của thị trường tài sản mã hóa. Đi kèm với Thông tư là hệ thống mẫu biểu chi tiết phục vụ việc khai thuế, bao gồm bảng kê chi tiết yêu cầu các thông tin khắt khe như mã định danh tài sản (BTC, ETH, USDT...), địa chỉ hợp đồng token (smart contract) và thông tin về cá nhân kiểm soát thực tế đối với các tổ chức nước ngoài. Các nội dung quản lý thuế khác không quy định tại Thông tư này sẽ áp dụng theo pháp luật quản lý thuế hiện hành.
Bài viết này có hữu ích?