Bỏ qua nội dung chính
BUSINESS LAW FIRM
Bản tin10 · 05 · 20264 phút đọcTiếng Việt

Bản Tin Pháp Luật 05/2026

Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 836/QĐ-BXD về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Trần Ninh Hà
Trần Ninh Hà
Managing Partner · Trưởng nhóm Đầu tư & FDI

DOANH NGHIỆP - THƯƠNG MẠI

Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP được ban hành nhằm tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân, thúc đẩy môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước thông qua việc đổi mới quy trình hành chính theo cơ chế "một cửa", không phụ thuộc vào địa giới hành chính, đồng thời gắn liền với cơ chế hậu kiểm. Phạm vi của Nghị quyết bao phủ toàn diện 11 lĩnh vực thuộc quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, thủy sản, thủy lợi cho đến quản lý đê điều, thiên tai, đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn và biển đảo. Các nội dung cắt giảm, đơn giản hóa TTHC và điều kiện kinh doanh cụ thể cho từng lĩnh vực này được quy định chi tiết tại các Phụ lục I đến Phụ lục XI kèm theo Nghị quyết.

Về tổ chức thực hiện, Bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa Nghị quyết, đảm bảo các quy định mới có hiệu lực trước ngày 01/03/2027. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện phân quyền trên địa bàn và công bố TTHC theo quy định. Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có thời hạn 03 tháng kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực để chuyển giao hồ sơ cho các cơ quan được phân quyền. Đáng chú ý, cán bộ, công chức tham gia xây dựng Nghị quyết này được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nghị quyết cũng đưa ra các điều khoản chuyển tiếp cụ thể: đối với các hồ sơ TTHC bị cắt giảm đã được cơ quan thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Nghị quyết có hiệu lực, cơ quan sẽ dừng giải quyết và hoàn trả hồ sơ nếu có yêu cầu; đối với các thủ tục được phân quyền, hồ sơ đã tiếp nhận mà chưa có kết quả sẽ tiếp tục được xử lý theo quy định cũ, trừ khi tổ chức, cá nhân yêu cầu áp dụng theo Nghị quyết mới. Các văn bản, giấy phép đã cấp trước đó nếu còn thời hạn thì vẫn tiếp tục được áp dụng cho đến khi hết hiệu lực. Về hiệu lực thi hành, Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 18/5/2026 đến hết ngày 28/02/2027. Tuy nhiên, một số quy định tại các Phụ lục I, II, III, VI, VII, VIII, IX và XIII (quy định tại Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP) có hiệu lực muộn hơn, từ ngày 01/7/2027.

Thông tư số 58/2026/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ ngày hoặc sau ngày 01/7/2026. hướng dẫn chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ.

Thông tư áp dụng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời cho phép hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh lựa chọn áp dụng nếu có nhu cầu. Về công tác tổ chức, doanh nghiệp siêu nhỏ được linh hoạt trong việc bố trí người làm kế toán là người thân hoặc người quản lý, điều hành trong đơn vị, không bắt buộc phải có kế toán trưởng và có thể sử dụng dịch vụ kế toán.

Doanh nghiệp siêu nhỏ thực hiện ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính dựa trên phương pháp nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) mà đơn vị áp dụng. Tùy thuộc vào phương pháp thuế cụ thể (như tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, hoặc phương pháp khấu trừ thuế GTGT kết hợp với thuế TNDN theo thu nhập), thông tư quy định danh mục sổ kế toán chi tiết tương ứng, bao gồm: Sổ doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ; Sổ chi tiết doanh thu, chi phí; Sổ chi tiết vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa; Sổ chi tiết tiền; Sổ theo dõi nghĩa vụ thuế GTGT; Sổ chi tiết thanh toán công nợ; Sổ tài sản cố định; Sổ theo dõi nghĩa vụ thuế khác và Sổ theo dõi vốn chủ sở hữu. Doanh nghiệp có thể thiết kế thêm hoặc sửa đổi biểu mẫu sổ sách, chứng từ để phù hợp với đặc điểm hoạt động nhưng phải đảm bảo tính trung thực, minh bạch và tuân thủ các quy định pháp luật kế toán hiện hành. Về báo cáo tài chính, doanh nghiệp siêu nhỏ nộp thuế TNDN theo thu nhập tính thuế bắt buộc phải lập Báo cáo tình hình tài chính và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, sau đó nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 90 ngày kể từ khi kết thúc kỳ kế toán năm. Ngược lại, các doanh nghiệp nộp thuế TNDN theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu không bắt buộc phải nộp báo cáo cho cơ quan nhà nước, trừ khi pháp luật có quy định khác, nhưng nếu thực hiện lập báo cáo để phục vụ quản lý thì phải lưu trữ tại doanh nghiệp. Thông tư cũng hướng dẫn chi tiết về việc chuyển đổi số dư các tài khoản kế toán theo quy định tại Thông tư số 132/2018/TT-BTC vào các sổ kế toán liên quan khi áp dụng Thông tư này . Kể từ khi Thông tư 58/2026/TT-BTC có hiệu lực, Thông tư số 132/2018/TT-BTC sẽ hết hiệu lực thi hành. Các cơ quan quản lý tại địa phương có trách nhiệm triển khai và hướng dẫn các doanh nghiệp siêu nhỏ thực hiện đúng các quy định này.

ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP, do Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2026 về cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Nghị quyết tập trung vào việc cắt giảm và sửa đổi danh mục các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm tạo môi trường kinh doanh hiệu quả hơn. Nghị quyết này áp dụng đối với nhà đầu tư và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh, với phạm vi điều chỉnh là các ngành, nghề được quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.

Nghị quyết này loại bỏ những ngành, nghề không thực sự cần thiết, rà soát để bãi bỏ các điều kiện không rõ ràng, chồng chéo hoặc đã không còn phù hợp với thực tiễn và ban hành danh mục chi tiết gồm 142 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, kèm theo yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải nghiên cứu, ban hành phương án quản lý thay thế đối với những ngành nghề được sửa đổi hoặc bãi bỏ. Đối với các điều khoản chuyển tiếp, các tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy phép, chứng chỉ hoặc các văn bản xác nhận cho phép đầu tư kinh doanh đối với các ngành nghề bị cắt giảm vẫn được tiếp tục sử dụng các giấy tờ này cho đến khi hết thời hạn ghi trên văn bản. Về tổ chức thực hiện, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chủ trì rà soát, đề xuất sửa đổi Phụ lục IV của Luật Đầu tư để đảm bảo tính đồng bộ. Các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề để làm cơ sở cho phương thức quản lý hậu kiểm trước ngày 01 tháng 7 năm 2026, với sự phối hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ. Các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác này được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan trong việc đảm bảo tính công khai, minh bạch, tránh tiêu cực, lãng phí. Đặc biệt, những người tham gia xây dựng Nghị quyết này được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

ĐẤT ĐAI - NHÀ Ở

Nghị định số 147/2026/NĐ-CP, được Chính phủ ban hành ngày 07 tháng 5 năm 2026, hướng dẫn chi tiết việc thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài theo Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội.

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định tập trung vào việc xử lý các dự án được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định, việc tiếp tục giao đất hoặc cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư và quản lý sử dụng đất, cũng như xử lý các dự án đầu tư trên khu đất Nhà nước đã thu hồi không đúng quy định. Đối tượng áp dụng bao gồm cơ quan nhà nước, người sử dụng đất, tổ chức và cá nhân có liên quan đến các dự án được thụ hưởng cơ chế đặc thù này.

Trong công tác xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định, Sở Xây dựng giữ vai trò chủ trì rà soát sự phù hợp của dự án với quy hoạch và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét điều chỉnh mục đích hoặc thời hạn sử dụng đất. Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm xác định giá đất, thông báo nghĩa vụ tài chính và công bố danh sách giấy chứng nhận cần xử lý, trong khi Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện công khai thông tin, thông báo cho người sử dụng đất và thực hiện các thủ tục chỉnh lý, cập nhật vào hồ sơ địa chính hoặc cấp mới giấy chứng nhận. Đối với phần tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp bổ sung khi chuyển sang đất ở, Nghị định thiết lập công thức tính cụ thể dựa trên chênh lệch giá tại thời điểm điều chỉnh, đồng thời quy định không hoàn trả nếu số tiền đã nộp trước đây lớn hơn. Đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư hoặc quản lý sử dụng đất, Sở Tài chính chủ trì rà soát các điều kiện để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép tiếp tục thực hiện dự án. Nghị định cũng quy định rõ cách thức xử lý tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí xây dựng đã ứng trước: nếu nhà đầu tư tiếp tục thực hiện dự án, các chi phí này được xử lý theo quy định về tiền sử dụng đất; nếu nhà đầu tư không bảo đảm năng lực và không được tiếp tục thực hiện dự án, ngân sách địa phương sẽ hoàn trả các chi phí hợp pháp đã đầu tư. Tương tự, đối với các dự án trên khu đất Nhà nước thu hồi không đúng quy định, sau khi rà soát và được chấp thuận, dự án sẽ được thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định pháp luật.

LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG

Thông tư số 08/2026/TT-BNV, được Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2026, đóng vai trò là văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP về hợp đồng lao động điện tử.

Thông tư tập trung vào các nội dung trọng tâm bao gồm: quy trình cấp mã định danh hợp đồng lao động điện tử (ID); các quy định về quản lý, khóa và mở khóa tài khoản truy cập; việc kết nối giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ (eContract) với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử quốc gia; cùng với đó là các nguyên tắc về quản lý, khai thác, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu trên nền tảng này.

Đối tượng áp dụng của Thông tư bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, các nhà cung cấp eContract, cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động điện tử. Cấu trúc của mã ID được quy định cụ thể với 01 ký tự chữ (phân loại hợp đồng) và 12 ký tự số được tạo tự động. Quy trình kết nối eContract với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử yêu cầu các nhà cung cấp phải đáp ứng điều kiện kỹ thuật và nộp hồ sơ đề nghị kết nối tới Bộ Nội vụ để kiểm tra, phê duyệt. Bộ Nội vụ có thẩm quyền quản lý tài khoản, thực hiện kiểm tra an toàn thông tin, cũng như quyết định tạm dừng hoặc chấm dứt kết nối đối với các nhà cung cấp nếu phát hiện sai phạm hoặc không đáp ứng đủ điều kiện. Về quản lý dữ liệu, Thông tư quy định chi tiết danh mục dữ liệu chủ, dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung, đồng thời yêu cầu các đơn vị liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Người sử dụng lao động, nhà cung cấp eContract và các cơ quan chức năng có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất thông qua nền tảng. Thông tư cũng quy định rõ cơ chế xử lý sự cố kỹ thuật và trách nhiệm của các bên nhằm đảm bảo hoạt động quản lý, vận hành nền tảng diễn ra liên tục, an toàn.

Quyết định số 422/QĐ-BHXH ngày 27/05/2026 của Bộ Tài chính về việc ban hành Quy trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ, tư vấn cho tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia, thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

Quyết định số 422/QĐ-BHXH quy định thống nhất các nguyên tắc, trách nhiệm, trình tự và thủ tục thực hiện hoạt động hỗ trợ, tư vấn cho tổ chức, cá nhân trong hệ thống BHXH Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm các đơn vị chuyên môn giúp việc Giám đốc, các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, cơ quan BHXH các cấp và đội ngũ viên chức, người lao động trong ngành áp dụng các quy định này khi thực hiện các hoạt động hỗ trợ, tư vấn cho tổ chức, cá nhân trong tham gia BHXH, BHTN, BHYT. Các hoạt động này phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật về chế độ chính sách, bảo mật tuyệt đối thông tin cá nhân/dữ liệu người tham gia, đồng thời đảm bảo tính công khai, khách quan và không phân biệt đối xử.

Tại BHXH Việt Nam, Ban Tuyên truyền và Hỗ trợ người tham gia (Ban TTHT) giữ vai trò đầu mối tiếp nhận, phân loại, đôn đốc các đơn vị chuyên môn xử lý yêu cầu và thực hiện phản hồi kết quả. Các đơn vị nghiệp vụ có trách nhiệm giải đáp các nội dung thuộc lĩnh vực chuyên môn và chịu trách nhiệm về tính chính xác, pháp lý của nội dung tư vấn. Ở địa phương, cơ quan BHXH cấp tỉnh chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức hoạt động hỗ trợ, tư vấn, giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền và phối hợp với Ban TTHT trong việc xử lý yêu cầu. Yêu cầu hỗ trợ được tiếp nhận qua nhiều kênh đa dạng: Tổng đài điện thoại, đường dây nóng, Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Cổng Thông tin điện tử, các trang mạng xã hội, email công vụ, bưu điện hoặc các phản ánh trực tiếp. Quy trình tiếp nhận chung bao gồm các bước: tiếp nhận và phân loại; xử lý chuyên môn (nếu cần); thông báo kết quả; kết thúc tương tác và đánh giá kết quả. Đối với các yêu cầu có kịch bản định sẵn hoặc câu hỏi đơn giản, giao dịch viên sẽ trả lời ngay. Với các nội dung chuyên môn sâu, Ban TTHT hoặc đơn vị có thẩm quyền sẽ xử lý và phản hồi trong thời hạn quy định cụ thể tại Phụ lục II. Hệ thống sẽ tự động gửi yêu cầu đánh giá sau khi kết thúc tương tác; nếu tổ chức, cá nhân không hài lòng, thông tin sẽ được chuyển tới bộ phận phụ trách để xem xét và xử lý đến khi cá nhân xác nhận hài lòng.

Quyết định số 583/QĐ-BNV ngày 27/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy định chi tiết về phạm vi, nghiệp vụ, dịch vụ, chức năng và tính năng của Nền tảng hợp đồng lao động (HĐLĐ) điện tử.

Mục đích chính của việc ban hành Nền tảng là hiện đại hóa công tác quản lý hợp đồng lao động, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội, đồng thời hướng tới quản trị quốc gia minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nền tảng này đóng vai trò là hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử quy mô quốc gia, do Bộ Nội vụ trực tiếp xây dựng, vận hành và quản lý, với Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội là đơn vị chủ trì.

Về phạm vi và đối tượng, Nền tảng quản lý thống nhất các giao dịch HĐLĐ điện tử trên toàn quốc thông qua việc cấp mã định danh (ID) duy nhất cho mỗi hợp đồng. Đối tượng sử dụng bao gồm cơ quan nhà nước (Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ, Ban quản lý khu công nghiệp...), người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ), các Nhà cung cấp hệ thống giao dịch điện tử (eContract) và các hệ thống dữ liệu liên quan. Các đơn vị này thực hiện các quyền hạn như khai thác, chia sẻ, tổng hợp dữ liệu hoặc thực hiện các nghĩa vụ báo cáo theo quy định pháp luật. Về nghiệp vụ và dịch vụ, Nền tảng thực hiện tin học hóa các hoạt động như đồng bộ dữ liệu HĐLĐ từ Nhà cung cấp eContract, kiểm tra xác thực chữ ký số, cấp mã ID, quản lý vòng đời hợp đồng, quản lý thông tin chủ thể và hỗ trợ tổng hợp báo cáo tình hình sử dụng lao động. Các dịch vụ tiện ích bao gồm hỗ trợ tra cứu, tải về hồ sơ HĐLĐ, chia sẻ thông tin hợp đồng, đồng bộ dữ liệu chuẩn hóa, xác thực thông tin và cung cấp các báo cáo thống kê, dashboard điều hành phục vụ công tác quản lý nhà nước. Về chức năng và tính năng, Nền tảng được phát triển trên cả phiên bản web-app và mobile-app với các chức năng chi tiết như quản lý tài khoản (hỗ trợ đăng nhập VNeID), quản lý API tích hợp, quản trị danh mục dùng chung, ghi nhật ký hệ thống và báo cáo đối soát. Các tính năng ưu việt của hệ thống bao gồm triển khai tập trung trên hạ tầng Cloud, hỗ trợ kiến trúc đa tổ chức, chuẩn hóa dữ liệu theo định dạng JSON/XML, bảo đảm an toàn thông tin tối thiểu cấp độ 3, bảo vệ dữ liệu cá nhân và khả năng tự động tổng hợp báo cáo từ dữ liệu HĐLĐ đã được đồng bộ.

THUẾ - PHÍ

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP ngày 05/5/2026 của Chính phủ được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT).

Về đối tượng không chịu thuế GTGT, với cơ chế điều chỉnh linh hoạt do Bộ Công Thương xác định và đề xuất; Bộ Tài chính chủ trì trình, nghiên cứu, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định. Nghị định cũng làm rõ doanh thu không chịu thuế GTGT bao gồm cả doanh thu hoa hồng từ hoạt động đại lý bán hàng hóa, dịch vụ và hoa hồng môi giới dịch vụ bảo hiểm thuộc đối tượng không chịu thuế.

Đối với công tác xác định doanh thu và khấu trừ thuế, Nghị định sửa đổi cách tính tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra, bao gồm cả doanh thu hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế và giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý, đồng thời quy định cụ thể cách xác định doanh thu riêng đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoạt động chứng khoán và kinh doanh bảo hiểm theo luật chuyên ngành. Ngoài ra, doanh thu chịu thuế GTGT được bổ sung bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Về khấu trừ thuế đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh được căn cứ vào hợp đồng và hóa đơn để khấu trừ thuế trước khi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tuy nhiên, nếu đến thời điểm thanh toán mà vẫn không có chứng từ này thì phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế đã khấu trừ, và được khấu trừ lại khi có đủ chứng từ hợp lệ. Cuối cùng, Nghị định thay thế toàn bộ Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) về sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác ban hành kèm theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP bằng Danh mục mới ban hành kèm theo Nghị định này. Các tổ chức, cá nhân thực hiện tra cứu mã hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và Biểu thuế xuất khẩu có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tờ khai để áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Quyết định số 595/QĐ-CT ngày 08/5/2026 của Cục trưởng Cục Thuế ban hành "Chiến dịch Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh".

Nhằm giải quyết tình trạng tồn đọng hồ sơ của người nộp thuế (NNT) ngừng hoạt động hoặc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Chiến dịch này được thực hiện trong năm 2026 nhằm mục đích chuẩn hóa dữ liệu, siết chặt quản lý, phòng ngừa gian lận thuế và tạo thuận lợi cho các NNT tuân thủ pháp luật.

Tình trạng NNT ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký (trạng thái 06) đang gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến minh bạch môi trường kinh doanh và tiềm ẩn rủi ro thất thu ngân sách. Mục tiêu tổng quát của chiến dịch là làm sạch dữ liệu, xử lý dứt điểm các hồ sơ tồn đọng, đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc phát sinh mới. Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm xử lý tối thiểu 35% hồ sơ trạng thái 03 tồn đọng đến ngày 31/3/2026 trước khi kết thúc năm 2026, giảm 20% lượng doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh mới phát sinh so với năm 2025, và giảm thời gian giải quyết hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động xuống còn không quá 04 tháng. Về nguyên tắc và giải pháp triển khai, chiến dịch áp dụng phương thức phân luồng, phân tầng rủi ro để xử lý hồ sơ, trong đó ưu tiên hỗ trợ NNT có thiện chí tuân thủ và xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng pháp nhân để vi phạm pháp luật, trục lợi thuế. Cục Thuế sẽ thành lập Ban Chỉ đạo do Phó Cục trưởng Mai Sơn làm Trưởng ban để điều hành thống nhất. Các giải pháp chính bao gồm: chuẩn hóa dữ liệu NNT; công khai thông tin các doanh nghiệp trạng thái 06 không hợp tác; chuyển cơ quan công an xử lý các vụ việc có dấu hiệu hình sự; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký kinh doanh và các đơn vị liên quan. NNT, cơ quan báo chí và xã hội được khuyến khích tham gia giám sát và tố giác các hành vi trục lợi ngân sách nhà nước. Chiến dịch được triển khai theo lộ trình cụ thể từ việc giao nhiệm vụ, rà soát pháp lý đến kiểm đếm kết quả thực hiện.

Bài viết này có hữu ích?

Chia sẻ
Đọc tiếp

Bài liên quan cùng chủ đề.

Xem tất cả bài viết →
Bản tin10 · 06 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 06/2026

Đọc tiếp →
Bản tin10 · 04 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 04/2026

Đọc tiếp →
Bản tin10-03-2026

Bản Tin Pháp Luật 03/2026

Đọc tiếp →

Có dự án liên quan đến một trong sáu nhóm trên?

Nhóm Đầu tư BLF tổ chức buổi rà soát pháp lý đầu tiên không tính phí. Liên hệ để đặt lịch.

Đặt lịch rà soát
Trao đổi với luật sư