Skip to main content
BUSINESS LAW FIRM
Newsletter10 · 01 · 20264 min read

Bản Tin Pháp Luật 09/2026

Cập nhật các quy định mới ban hành trong tháng 09/2026 về chào bán và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, phân cấp kiểm tra chuyên ngành xây dựng, sửa đổi quy định lựa chọn nhà thầu, cùng hệ thống định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa qua Nền tảng quốc gia.

Trần Ninh Hà
Trần Ninh Hà
Managing Partner · Investment & FDI lead

ĐIỂM TIN NỔI BẬT

Trong lĩnh vực Doanh nghiệp - Thương mại

  • Ngày 24/09/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 137/2026/TT-BTC 02 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về quản lý chất lượng.

Trong lĩnh vực Đầu tư - Xây dựng

  • Ngày 17/09/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1796/QĐ-TTg Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phát triển đô thị.
  • Ngày 22/09/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 280/NQ-CP Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 08/06/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Ngày 30/09/2026, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành: Thông tư 73/2026/TT-BXD quy định về phân cấp và quy trình kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng; Thông tư 72/2026/TT-BXD về định mức chi phí chuẩn bị và hoạt động thực hiện dự án sau khi ký kết hợp đồng của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực đường bộ.

Trong lĩnh vực Đấu thầu - Cạnh tranh - Quy hoạch

  • Ngày 09/09/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 349/2026/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.
  • Ngày 09/09/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 134/2026/TT-BTC quy định chi tiết mẫu hồ sơ yêu cầu áp dụng hình thức chỉ định thầu, báo cáo đánh giá, báo cáo thẩm định, kiểm tra, giám sát, báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu.

Trong lĩnh vực Đất đai - Nhà ở

  • Bộ Xây dựng ban hành Quyết định 1652/QĐ-BXD Kế hoạch của Bộ Xây dựng thực hiện Nghị quyết 229/NQ-CP ngày 13/8/2026 của Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan và Kế hoạch 07-KH/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW .

Trong lĩnh vực Bảo hiểm - Lao động - Tiền lương

  • Ngày 17/09/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 275/NQ-CP về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng

  • Ngày 25/09/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 48/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2021/TT-NHNN hướng dẫn giao dịch ngoại tệ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối.

Trong lĩnh vực Chứng khoán

  • Ngày 07/09/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 2492/QĐ-BTC quy định về phạm vi sử dụng, đối tượng sử dụng, nghiệp vụ, dịch vụ, tính năng, chức năng của Nền tảng/cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý chứng khoán.
  • Ngày 25/09/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 138/2026/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định 200/2026/NĐ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.
  • Ngày 30/09/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 145/2026/TT-BTC Quy định hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán.

Trong lĩnh vực Thuế - Phí - Lệ phí

  • Ngày 09/09/2026, Bộ Tài chính ban hànhThông tư 135/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 152/2015/T-BTC ngày 02/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 41/2024/TT-BTC.
  • Ngày 14/09/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 136/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 của Thông tư 158/2025/TT-BTC ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Nghị định 360/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

Trong lĩnh vực Môi trường

  • Ngày 10/09/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư 38/2026/TT-BNNMT quy định tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp và môi trường.

Trong lĩnh vực Xuất nhập khẩu

  • Ngày 05/09/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư 48/2026/TT-BCT quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương.
  • Ngày 08/09/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định 2195/QĐ-BCT về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành và sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Công Thương.
  • Ngày 11/09/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định 2232/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Xuất nhập khẩu.
  • Ngày 29/09/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
  • Ngày 29/09/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 142/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh gửi qua dịch vụ bưu chính của doanh nghiệp được chỉ định, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế.

Dự thảo

  • Dự thảo Luật Nhà ở.
  • Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phát triển đô thị.
  • Dự thảo Thông tư hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Dự thảo Thông tư hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
  • Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
  • Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi).
  • Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 156/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 128/2021/NĐ-CP và Nghị định 306/2025/NĐ-CP.

DOANH NGHIỆP - THƯƠNG MẠI

Thông tư số 137/2026/TT-BTC quy định và chuẩn hóa hệ thống quản lý chất lượng áp dụng cho các doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam khi thực hiện các dịch vụ kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo khác hoặc các dịch vụ liên quan.

Về cấu trúc và hiệu lực thi hành, Thông tư bao gồm các điều khoản quy định chung, điều khoản chuyển tiếp và tổ chức thực hiện, đồng thời đính kèm các phụ lục chi tiết về Chuẩn mực quản lý chất lượng Việt Nam số 1 (VSQM1) và các định nghĩa, hướng dẫn áp dụng có liên quan. Về điều khoản chuyển tiếp, VSQM2 và các quy định quản lý chất lượng mới sẽ chính thức áp dụng đối với các hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính, soát xét báo cáo tài chính, hợp đồng dịch vụ đảm bảo khác và các dịch vụ liên quan cho các kỳ kế toán bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2029. Đối với các hợp đồng dịch vụ bắt đầu trước ngày 01/01/2029, doanh nghiệp tiếp tục áp dụng chuẩn mực cũ VSQC1 ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC. Trách nhiệm tổ chức thực hiện thuộc về Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam cùng các doanh nghiệp kiểm toán và các tổ chức, cá nhân liên quan.

ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Thông tư số 73/2026/TT-BXD quy định chi tiết về phân cấp và quy trình kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. Văn bản này bao gồm 4 chương, quy định từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, thẩm quyền, quy trình tiến hành cho đến các điều khoản thi hành nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Chương I và Chương II xác định rõ phạm vi điều chỉnh đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời quy định cụ thể về phân cấp thẩm quyền cũng như việc tổ chức Đoàn kiểm tra và kế hoạch kiểm tra chuyên đề. Theo đó, Cục trưởng các Cục thuộc Bộ thực hiện kiểm tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý được giao, Vụ trưởng các Vụ chủ trì phối hợp tham mưu đối với các lĩnh vực còn lại, và Bộ trưởng quyết định các trường hợp đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan hoặc đối tượng là Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chương III quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thực hiện kiểm tra chuyên ngành, bắt đầu từ việc ban hành quyết định kiểm tra, rà soát, cho đến việc lựa chọn hình thức kiểm tra trực tiếp hoặc trực tuyến, từ xa. Đoàn kiểm tra có trách nhiệm tuân thủ các quy định về thu thập thông tin, tài liệu, lấy mẫu, thử nghiệm (nếu cần), lập biên bản kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện dấu hiệu bất thường. Ngoài ra, chương này cũng hướng dẫn cụ thể về chế độ báo cáo kết quả, văn bản yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục tồn tại, quy định về gia hạn thời hạn kiểm tra, theo dõi đôn đốc sau kiểm tra và việc lập, bàn giao, lưu trữ hồ sơ kiểm tra. Chương IV quy định về hiệu lực thi hành, trong đó Thông tư chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2026, đồng thời đưa ra các điều khoản chuyển tiếp đối với các cuộc kiểm tra hoặc kế hoạch kiểm tra chuyên đề đã được phê duyệt trước thời điểm này. Đi kèm với Thông tư là Phụ lục hệ thống 08 biểu mẫu chuẩn (từ Mẫu số 01 đến Mẫu số 08) phục vụ cho công tác lập kế hoạch, quyết định kiểm tra, biên bản, báo cáo kết quả, văn bản chấn chỉnh và quyết định gia hạn để các cơ quan, đơn vị thống nhất áp dụng trong thực tiễn.

Thông tư số 72/2026/TT-BXD quy định về định mức chi phí chuẩn bị và hoạt động triển khai thực hiện dự án sau khi ký kết hợp đồng của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực đường bộ. Văn bản này xác định rõ các định mức chi phí, nguyên tắc áp dụng cũng như hướng dẫn lập dự toán và quản lý sử dụng chi phí theo quy định của pháp luật.

Thông tư điều chỉnh trực tiếp các chi phí chuẩn bị và triển khai dự án PPP trong lĩnh vực đường bộ, đồng thời để các cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng hoặc điều chỉnh cho phù hợp đối với các dự án PPP giao thông lĩnh vực khác. Đối tượng áp dụng bao gồm cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng, các đơn vị được giao nhiệm vụ cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc lập dự toán, quản lý và sử dụng các nguồn chi phí này. Chi phí do cơ quan nhà nước xác định theo Thông tư này đóng vai trò là mức chi phí tối đa để tổ chức thực hiện các công việc trong giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng. Nội dung trọng tâm của Thông tư chia thành các phần định mức cụ thể: Thứ nhất là định mức chi phí chuẩn bị dự án đầu tư PPP trong lĩnh vực đường bộ, kết hợp với hệ số điều chỉnh theo quy mô, nhóm dự án, địa bàn triển khai hoặc trường hợp đặc thù. Thứ hai là định mức chi phí hoạt động triển khai thực hiện dự án trong giai đoạn xây dựng, làm cơ sở để hằng năm các cơ quan ký kết hợp đồng lập dự toán ngân sách trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thứ ba, Thông tư hướng dẫn cụ thể nguyên tắc, nội dung công việc và căn cứ xác định chi phí trong giai đoạn vận hành, kinh doanh thực hiện theo chế độ, định mức của Nhà nước và quy định pháp luật về ngân sách. Về hiệu lực thi hành, Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2026 kèm theo các quy định chuyển tiếp rõ ràng đối với chi phí chuẩn bị dự án, dự toán chi phí đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước thời điểm Thông tư có hiệu lực. Các dự toán chưa được phê duyệt tính đến ngày Thông tư chính thức có hiệu lực sẽ phải tuân thủ và áp dụng theo các quy định mới này.

ĐẤU THẦU - CẠNH TRANH - QUY HOẠCH

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, cũng như các quy định liên quan đến cơ chế đặt hàng và quản lý tài chính.

Văn bản này gồm các nội dung trọng tâm điều chỉnh hoạt động đấu thầu, quy trình chỉ định thầu, quản lý hợp đồng và các điều khoản chuyển tiếp. Cụ thể, Nghị định sửa đổi các quy định về thu thập báo giá hàng hóa và dịch vụ, trong đó yêu cầu chủ đầu tư đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để các đơn vị quan tâm gửi báo giá trong thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc (10 ngày đối với lĩnh vực y tế). Đồng thời, văn bản điều chỉnh các tiêu chí tham gia tổ chuyên gia, tổ thẩm định đấu thầu đối với các dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cũng như quy định cập nhật tiến độ thực hiện hợp đồng thực tế trên hệ thống. Bên cạnh đó, Nghị định bổ sung và làm rõ các trường hợp áp dụng hình thức chỉ định thầu thông thường và chỉ định thầu rút gọn đối với nhiều nhóm gói thầu khác nhau như gói thầu cấp bách theo chỉ đạo của cơ quan Đảng và Nhà nước, gói thầu phục vụ chuyển đổi số quốc gia, gói thầu mua sắm nhỏ gọn, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, y tế, giáo dục và các gói thầu đặc thù khác. Quy trình thực hiện chỉ định thầu, lập hồ sơ yêu cầu, thương thảo hợp đồng và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu cũng được quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, văn bản cũng hoàn thiện các quy định về quản lý nhà thầu phụ, xử lý tình huống trong đấu thầu, cơ chế giám sát thường xuyên của các cơ quan quản lý nhà nước, giải quyết kiến nghị, cũng như các quy định về đặt hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công và các điều khoản thi hành.

CHỨNG KHOÁN

Quyết định này ban hành quy định cụ thể về phạm vi sử dụng, đối tượng sử dụng, nghiệp vụ, dịch vụ, tính năng và chức năng của Nền tảng/cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý chứng khoán, bao gồm hai cấu phần chính là: Hệ thống tổng thể công nghệ thông tin phục vụ quản lý, giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và Kho dữ liệu tập trung chuyên ngành (Data Warehouse).

Mục đích sử dụng của nền tảng nhằm hình thành kho cơ sở dữ liệu chuyên ngành thống nhất, tập trung về chứng khoán và thị trường chứng khoán, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, giám sát của UBCKNN, đồng thời đáp ứng yêu cầu liên thông, tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa UBCKNN với các đơn vị trong và ngoài ngành tài chính. Phạm vi sử dụng của nền tảng được triển khai trực tiếp tại UBCKNN, các Sở Giao dịch chứng khoán, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), các thành viên thị trường và các tổ chức, cá nhân liên quan. Đối tượng sử dụng được phân thành người dùng nội bộ (lãnh đạo, chuyên viên và cán bộ quản trị hệ thống của UBCKNN) và người sử dụng bên ngoài (bao gồm các tổ chức như Sở Giao dịch chứng khoán, VSDC, công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng lưu ký giám sát, các chi nhánh/văn phòng đại diện nước ngoài, tổ chức kiểm toán được chấp thuận, và các cá nhân như người hành nghề chứng khoán, nhà đầu tư, cổ đông lớn, người nội bộ). Về nghiệp vụ, hệ thống bao gồm nhiều phân khúc chuyên sâu như: nghiệp vụ giám sát giao dịch chứng khoán, quản lý và giám sát công ty đại chúng, công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư, công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài, giao dịch chứng khoán trực tuyến, tổ chức kiểm toán, cổ đông lớn và người nội bộ. Bên cạnh đó, hệ thống còn đảm nhận các nghiệp vụ về công tác thanh tra chứng khoán, thống kê, quản lý thủ tục hành chính, quản lý rủi ro thị trường, quản lý trao đổi thông tin trong ngành tài chính và các nghiệp vụ dùng chung như quản lý người dùng tập trung và danh mục điện tử dùng chung. Các dịch vụ cốt lõi của nền tảng bao gồm: quy trình xử lý dữ liệu (ETL/ELT) để tập trung, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu; quy trình Dashboard cung cấp bảng điều khiển cho lãnh đạo và cán bộ UBCKNN được phân quyền; dịch vụ khai thác và phân tích dữ liệu hỗ trợ tự phục vụ truy vấn, phân tích sẵn sàng phục vụ AI; cùng với danh mục điện tử dùng chung nhằm chuẩn hóa và quản lý mã định danh, bảng tra cứu để đảm bảo tính thống nhất, toàn vẹn giữa các hệ thống thành phần. Về chức năng, cấu phần Hệ thống tổng thể công nghệ thông tin bao gồm 04 nhóm chức năng nghiệp vụ chính: khối nghiệp vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp (cổng báo cáo trực tuyến, ứng dụng Mobile app), khối ứng dụng kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu (phân hệ quản lý dữ liệu trao đổi và trục tích hợp), khối nghiệp vụ dùng chung (đăng nhập tập trung, cổng truy cập tập trung nội bộ, quản lý danh mục điện tử và quản lý người dùng tập trung), và khối nghiệp vụ quản lý, giám sát bao gồm: các phân hệ giám sát giao dịch, quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, người hành nghề, nhà đầu tư nước ngoài, thống kê nội bộ, quản lý rủi ro thị trường, quản lý công ty đại chúng, thanh tra chứng khoán, tổ chức kiểm toán, giao dịch trực tuyến và thủ tục hành chính. Cấu phần Kho dữ liệu tập trung chuyên ngành (Data Warehouse) phục vụ khai thác, phân tích dữ liệu trên các lĩnh vực giám sát, thanh tra, chào bán chứng khoán, quản lý quỹ, nhà đầu tư nước ngoài, người hành nghề, thống kê nội bộ và rủi ro thị trường thông qua các nhóm chức năng chính gồm đồng bộ/tổng hợp dữ liệu, hỗ trợ khai thác, phân tích, quản trị và dịch vụ chia sẻ dữ liệu. Cuối cùng, nền tảng sở hữu 15 tính năng ưu việt nhằm đảm bảo vận hành an toàn và hiệu quả, tiêu biểu như hỗ trợ đăng nhập một lần SSO tích hợp ứng dụng định danh quốc gia VNeID, kiến trúc dùng chung đa đối tượng với cơ chế phân quyền chi tiết theo vai trò và phạm vi dữ liệu, hỗ trợ báo cáo và công bố thông tin điện tử, tự động kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của dữ liệu đồng bộ, theo dõi trạng thái đồng bộ, ghi nhận nhật ký (log) và truy vết toàn bộ hoạt động. Hệ thống còn cung cấp tính năng tìm kiếm cơ bản và nâng cao, dashboard trực quan, khả năng mở rộng tích hợp, bảo đảm an toàn thông tin cấp độ 3, bảo vệ dữ liệu cá nhân, hỗ trợ trên thiết bị di động, cũng như quản lý danh mục điện tử dùng chung và làm sạch dữ liệu.

Thông tư số 138/2026/TT-BTC quy định và hướng dẫn chi tiết về việc chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.

Thông tư này áp dụng đối với các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, cùng với các tổ chức tư vấn hồ sơ, đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức đăng ký lưu ký, Sở Giao dịch Chứng khoán, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cũng như các nhà đầu tư tham gia thị trường. Về công tác đăng ký, lưu ký và tổ chức thị trường, doanh nghiệp phát hành có trách nhiệm đăng ký thông tin trái phiếu, cập nhật kịp thời các thay đổi hoặc điều chỉnh giảm số lượng trái phiếu theo quy định. Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam quản lý hoạt động lưu ký, thực hiện quyền (như thanh toán gốc, lãi, hoán đổi, chuyển đổi, hoặc mua lại trước hạn) dựa trên hồ sơ hợp lệ từ doanh nghiệp. Giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trên hệ thống của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thực hiện theo phương thức thỏa thuận (điện tử hoặc thông thường) với loại hình giao dịch mua bán thông thường. Hoạt động thanh toán được thực hiện theo phương thức thanh toán tức thời theo từng giao dịch thông qua ngân hàng thanh toán và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, không áp dụng cơ chế đối tác bù trừ trung tâm. Về chế độ công bố thông tin và báo cáo, doanh nghiệp phát hành phải tuân thủ việc công bố thông tin định kỳ (6 tháng và hàng năm), công bố bất thường, cũng như thông tin về chuyển đổi trái phiếu, chứng quyền, hoặc mua lại trước hạn thông qua Chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp. Các tổ chức dịch vụ trung gian như tổ chức tư vấn hồ sơ, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, ngân hàng thanh toán và Sở Giao dịch Chứng khoán có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo định kỳ quý, năm hoặc báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, thông tin, dữ liệu trên chuyên trang cũng được chia sẻ cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để phối hợp giám sát, quản lý theo thẩm quyền.

XUẤT NHẬP KHẨU

Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá thông qua Nền tảng quốc gia. Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cá nhân tham gia sản xuất, chế biến, kinh doanh, phân phối, xuất nhập khẩu, vận chuyển, lưu kho sản phẩm, hàng hóa, cũng như các đơn vị cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và các chủ thể liên quan.

Về phạm vi điều chỉnh, văn bản này thiết lập Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá cùng Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa. Đối với hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ và truy xuất nguồn gốc được thực hiện bắt buộc theo danh mục, lộ trình do bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định; trong khi đó, các sản phẩm có rủi ro trung bình, thấp hoặc hàng hóa xuất khẩu (trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác) được khuyến khích thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện. Nghị định không áp dụng đối với hàng tạm nhập tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển, gửi kho ngoại quan xuất đi nước thứ ba, sản phẩm thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, cơ yếu có yêu cầu bảo mật, đồng thời các nghiệp vụ truy xuất nguồn gốc cụ thể được thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP. Nội dung trọng tâm của nghị định xoay quanh hệ thống mã định danh, xác thực và các giải pháp kỹ thuật số. Cụ thể, mã định danh sản phẩm, hàng hoá (mã UID) được tạo lập tự động trên nền tảng quốc gia dựa trên tiêu chuẩn GS1 và các quy chuẩn quốc gia, quốc tế, có khả năng định danh đến từng lô, mẻ hoặc từng đơn vị sản phẩm. Mã UID này được liên kết tự động với mã định danh phi tập trung (DID) của chủ thể, khóa bí mật, khóa công khai, chữ ký điện tử chuyên dùng và các chứng chỉ số, bằng chứng số để đảm bảo tính độc lập, toàn vẹn và khả năng truy vết. Việc khởi tạo, chia sẻ và xác thực các chứng chỉ số, bằng chứng số tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về giao dịch điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bên cạnh đó, nghị định xây dựng Nền tảng chuỗi khối quốc gia và Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá (tích hợp Hệ thống định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc và Ứng dụng quốc gia VNeID) nhằm tập trung hóa dữ liệu tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, kết nối liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Việc thu thập, cập nhật, kết nối và chia sẻ thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa được quy định rõ ràng nhằm đảm bảo dữ liệu luôn sạch, chính xác, có nguồn gốc hợp pháp và không trùng lặp. Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực như Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Tài chính cùng Thanh tra Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp chia sẻ dữ liệu liên quan đến sản xuất, lưu thông, hóa đơn, thuế và thanh tra kiểm tra. Các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người tiêu dùng được phân quyền khai thác, sử dụng dữ liệu để phục vụ công tác quản lý, phòng chống gian lận thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thực hiện nghĩa vụ truy xuất nguồn gốc.

DỰ THẢO

Dự thảo quy định về sở hữu, phát triển, quản lý vận hành, sử dụng, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở tại Việt Nam, đồng thời làm rõ các khái niệm cốt lõi như: nhà ở thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân, nhà chung cư cùng các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý và sử dụng. Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia có kỳ hạn 10 năm do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm định hướng phân bổ, phát triển các loại hình nhà ở. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng và phê duyệt chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh có kỳ hạn 05 năm để làm căn cứ triển khai tại địa phương.

Việc phát triển nhà ở phải gắn kết chặt chẽ với quy hoạch đô thị, hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy và ứng phó với biến đổi khí hậu. Về mặt sở hữu, dự thảo xác định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở trong nước, cũng như quy định chi tiết về điều kiện, tỷ lệ sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại được lựa chọn thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án hoặc chấp thuận nhà đầu tư, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ dành quỹ đất hoặc đóng tiền tương đương để xây dựng nhà ở xã hội. Đối với cá nhân, việc xây dựng nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ để bán hoặc cho thuê phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về phòng cháy chữa cháy, điều kiện hạ tầng và pháp luật xây dựng. Dự thảo có hai hình thức đầu tư nhà ở cho thuê gồm: hình thức sử dụng vốn nhà nước và hình thức đầu tư không bằng vốn nhà nước với nhiều cơ chế ưu đãi về tiền sử dụng đất, thuế và tín dụng để thu hút các thành phần kinh tế tham gia. Riêng đối với nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp và nhà lưu trú ngoài khu công nghiệp, luật quy định cụ thể về tiêu chuẩn, quy hoạch quỹ đất, đối tượng thụ hưởng và quy trình quản lý vận hành. Nhà ở công vụ được đầu tư bằng ngân sách để bố trí cho các đối tượng lãnh đạo cấp cao, cán bộ được điều động, luân chuyển hoặc lực lượng vũ trang theo tiêu chuẩn diện tích và mức giá cho thuê tính đúng, tính đủ chi phí vận hành. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ nhà ở chính sách được triển khai cho người có công với cách mạng, hộ nghèo thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia và các đối tượng đủ điều kiện mua, thuê mua nhà ở xã hội.

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phát triển đô thị bao gồm các quy định toàn diện nhằm cụ thể hóa các cơ chế quản lý, phát triển không gian đô thị, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu phi thuế quan, khu cảng mở và khu đô thị lấn biển.

Cụ thể, Chương I quy định chung xác định rõ phạm vi điều chỉnh đối với các nội dung trọng yếu như tiêu chí, thẩm quyền, trình tự thành lập và quản lý các khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu phi thuế quan, chế độ ưu tiên hải quan, thủ tục hải quan đơn giản, cũng như các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị lấn biển. Đồng thời, chương này làm rõ các đối tượng áp dụng và định nghĩa các thuật ngữ chuyên môn quan trọng như không gian tương đối độc lập, tờ khai đơn giản, mã khu phi thuế quan, mã địa điểm và thẩm quyền của cơ quan hải quan các cấp. Chương II tập trung quy định chi tiết về việc công nhận xã, phường, đặc khu là khu kinh tế đặc biệt thông qua các điều kiện tiên quyết và khung điểm đánh giá tối đa 100 điểm. Các tiêu chí xét duyệt bao gồm vị trí chiến lược (cực tăng trưởng quốc gia, vùng động lực), trình độ phát triển kinh tế - xã hội và tự chủ ngân sách, quy mô dân số và diện tích tự nhiên, khả năng huy động nguồn lực hạ tầng, cùng với tiềm năng phát triển các ngành nghề ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược kết hợp với hệ thống cảng biển hoặc cảng hàng không lớn. Hồ sơ đề án, nguồn số liệu, quy trình thẩm định liên ngành qua Bộ Tài chính và quyết định công nhận của Chính phủ cũng được quy định cụ thể nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, khả thi trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Chương III và Chương IV thiết lập hành lang pháp lý cho việc thành lập, mở rộng, điều chỉnh và quản lý hải quan đối với khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp và khu phi thuế quan. Các khu thương mại tự do đòi hỏi vị trí kết nối giao thông quốc tế thuận lợi, quy mô tối thiểu 1.000 ha, hạ tầng đồng bộ và phương án bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng chống buôn lậu. Đối với khu phi thuế quan, dự thảo quy định rõ nguyên tắc hoạt động như một khu vực hải quan riêng, sử dụng tờ khai đơn giản trong quan hệ với nội địa, yêu cầu khắt khe về hạ tầng kỹ thuật (hàng rào cứng, hệ thống camera giám sát liên tục 24h, hệ thống CNTT), cùng thẩm quyền kiểm tra, cấp mã khu phi thuế quan và mã địa điểm của Cục Hải quan. Các chương tiếp theo từ Chương V đến Chương IX quy định về cơ chế chính sách áp dụng, mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, chế độ ưu tiên hải quan cho doanh nghiệp đủ điều kiện, trình tự thủ tục hải quan và kiểm tra giám sát chuyên ngành, cũng như định mức mua hàng miễn thuế cho người nước ngoài khi nhập cảnh vào khu kinh tế đặc biệt. Cơ chế một cửa liên thông, việc ứng dụng công nghệ số và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đóng vai trò nền tảng trong việc vận hành các khu chức năng này, giúp tối ưu hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi thương mại nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước. Chương X và Chương XI quy định chi tiết về dự án đầu tư xây dựng khu đô thị lấn biển nhằm thu hút nhà đầu tư chiến lược, các điều kiện xác định nhà đầu tư, yêu cầu về quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, bảo vệ bờ biển và phòng chống thiên tai, cũng như các điều khoản chuyển tiếp và trách nhiệm thi hành của các bộ, ngành, địa phương. Dự thảo Nghị định tạo lập khung pháp lý đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển đột phá của hệ thống đô thị và các động lực tăng trưởng kinh tế mới theo định hướng của Luật Phát triển đô thị.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xanh. Dự thảo sửa đổi, bổ sung nhiều khái niệm cốt lõi tại Điều 3 như đánh giá sơ bộ tác động môi trường, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, cộng đồng dân cư, giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon, thị trường các-bon, sàn giao dịch các-bon, vùng phát thải thấp và kinh tế tuần hoàn. Về chính sách của Nhà nước, dự thảo nhấn mạnh việc ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển năng lượng sạch, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, dự thảo quy định rõ trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về vấn đề ô nhiễm môi trường trên địa bàn và bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc thải các chất được kiểm soát ra môi trường. Đối với các thành phần môi trường, dự thảo sửa đổi quy định quản lý nguồn thải vào môi trường nước mặt theo khả năng chịu tải, tăng cường kiểm kê, quan trắc và kiểm soát khí thải, chất lượng không khí, cũng như điều tra, đánh giá và khoanh vùng các khu vực ô nhiễm môi trường đất, đặc biệt là vùng đất ô nhiễm dioxin và hóa chất tồn lưu. Trong công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp phép môi trường, dự thảo điều chỉnh tiêu chí phân loại dự án đầu tư thành nhóm I, II và III, quy định cụ thể đối tượng và nội dung phải thực hiện đánh giá sơ bộ tác động môi trường ngay từ giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi. Quy trình thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM, cấp giấy phép môi trường, điều chỉnh giấy phép và đăng ký môi trường cũng được tinh gọn, đẩy mạnh ứng dụng môi trường điện tử nhằm cắt giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Đặc biệt, dự thảo bổ sung các quy định chi tiết về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì thải bỏ của nhà sản xuất, nhập khẩu, quản lý vật liệu tái chế, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn theo lộ trình, cũng như quản lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại. Dự thảo thiết lập khung pháp lý toàn diện để vận hành thị trường các-bon trong nước, bao gồm sàn giao dịch các-bon, hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon và các quy định về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải.

Dự thảo Thông tư quy định toàn diện về phạm vi, nguyên tắc, ngôn ngữ, phương tiện cũng như các nghiệp vụ báo cáo và công bố thông tin áp dụng cho các thành viên tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chương đầu tiên xác định rõ đối tượng áp dụng bao gồm: công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, chi nhánh nước ngoài, Sở Giao dịch Chứng khoán, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam, cùng các nhà đầu tư và tổ chức liên quan. Nguyên tắc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch, đồng thời bảo vệ thông tin cá nhân theo sự đồng ý của chủ thể. Về ngôn ngữ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là tiếng Việt, đồng thời quy định lộ trình áp dụng công bố thông tin bằng tiếng Anh cho các nhóm đối tượng khác nhau từ năm 2027 và 2028. Dự thảo cũng quy định cụ thể về người thực hiện công bố thông tin (đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền), các phương tiện công bố (trang thông tin điện tử, cổng thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán), cũng như cơ chế tạm hoãn công bố thông tin trong trường hợp bất khả kháng. Đối với công ty đại chúng, Chương II và Chương III quy định rõ các nghĩa vụ công bố thông tin khi đăng ký hoặc hủy tư cách công ty đại chúng, đồng thời phân định chi tiết giữa công ty đại chúng thông thường, công ty đại chúng quy mô lớn và tổ chức niêm yết cổ phiếu. Các doanh nghiệp này phải thực hiện công bố thông tin định kỳ bao gồm báo cáo tài chính năm đã kiểm toán, báo cáo thường niên, tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông, báo cáo tình hình quản trị công ty và báo cáo phát triển bền vững. Riêng tổ chức niêm yết và công ty đại chúng quy mô lớn còn phải lập và công bố báo cáo tài chính bán niên soát xét và báo cáo tài chính quý với thời hạn chặt chẽ, kèm theo nghĩa vụ giải trình chi tiết khi lợi nhuận sau thuế thay đổi từ 10% trở lên, chuyển từ lãi sang lỗ (hoặc ngược lại), hoặc có chênh lệch trước và sau kiểm toán/soát xét từ 5% trở lên. Ngoài ra, danh mục các sự kiện bất thường phải công bố trong thời hạn 24 giờ bao gồm việc tài khoản bị phong tỏa, đình chỉ hoạt động kinh doanh, thay đổi nhân sự chủ chốt, quyết định tổ chức lại doanh nghiệp, giao dịch tài sản có giá trị lớn, hay các quyết định khởi tố, xử phạt vi phạm pháp luật. Chương IV của dự thảo tập trung vào nghĩa vụ công bố thông tin của tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng, tổ chức niêm yết trái phiếu và tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Các tổ chức này có trách nhiệm công bố định kỳ báo cáo tài chính, báo cáo tình hình sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán đã được kiểm toán, tiến độ giải ngân định kỳ 6 tháng, cũng như tình hình thanh toán gốc và lãi trái phiếu. Khi hoàn thành đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng và đạt quy mô vốn góp từ 120 tỷ đồng trở lên, tổ chức phát hành phải chuyển sang tuân thủ đầy đủ chế độ công bố thông tin như đối với tổ chức niêm yết cổ phiếu và công ty đại chúng quy mô lớn. Chương V và Chương VI quy định các đặc thù công bố thông tin đối với các định chế tài chính trung gian và quỹ đầu tư, bao gồm công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, các chi nhánh và văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam, quỹ đại chúng, cũng như công ty đầu tư chứng khoán đại chúng. Các đơn vị này phải công bố báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính, các sự kiện bất thường liên quan đến quyết định xử phạt hành chính, cảnh báo, kiểm soát, đình chỉ nghiệp vụ hoặc cung cấp các dịch vụ giao dịch trực tuyến, cho vay giao dịch ký quỹ. Đối với quỹ đại chúng và công ty đầu tư chứng khoán đại chúng, công ty quản lý quỹ phải thực hiện công bố định kỳ các báo cáo hoạt động đầu tư, báo cáo thay đổi giá trị tài sản ròng và tổng kết hoạt động quản lý quỹ theo đúng quy định pháp luật chuyên ngành. Chương VII quy định nghĩa vụ công bố thông tin đối với các nhóm đối tượng khác như cổ đông lớn, nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên quyền biểu quyết, cổ đông sáng lập trong thời gian hạn chế chuyển nhượng, và người nội bộ cùng người có liên quan. Các đối tượng này phải thực hiện báo cáo và công bố thông tin trước và sau khi thực hiện giao dịch chứng khoán khi đạt các ngưỡng giá trị hoặc tỷ lệ sở hữu quy định. Dự thảo cũng quy định các cơ chế miễn trừ nghĩa vụ công bố thông tin đối với quỹ hoán đổi danh mục, thành viên lập quỹ, tổ chức tạo lập thị trường trong các giao dịch hoán đổi và tái cơ cấu danh mục theo chỉ số tham chiếu, cũng như quy định minh bạch đối với giao dịch chào mua công khai và thành viên lưu ký.

Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) bao gồm các nội dung chính được tổ chức thành 7 chương, quy định về hoạt động lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, cũng như công tác quản lý nhà nước có liên quan.

Chương I xác định phạm vi điều chỉnh của luật đối với hoạt động lựa chọn nhà thầu sử dụng ngân sách nhà nước, nguồn thu hợp pháp của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, cũng như lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh theo quy định pháp luật. Luật cũng quy định các trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh, đồng thời cho phép cơ quan, tổ chức tự quyết định áp dụng. Bên cạnh đó, văn bản nêu rõ các nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu như công khai, minh bạch, cạnh tranh, công bằng, hiệu quả và ưu tiên phát triển trong nước. Chương này cũng giải thích các từ ngữ chuyên môn, quy định tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư, chính sách ưu đãi, ngôn ngữ, đồng tiền dự thầu, chi phí, bảo đảm dự thầu, các hành vi bị cấm, cùng những quy định về hủy thầu, đình chỉ cuộc thầu và Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Chương II chia thành hai mục quy định về hình thức và phương thức thực hiện. Đối với lựa chọn nhà thầu, luật quy định các hình thức gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, đàm phán cạnh tranh, chào giá trực tuyến, tham gia thực hiện của cộng đồng, chỉ định thầu, đặt hàng, tự thực hiện, đàm phán giá và lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt. Phương thức lựa chọn nhà thầu bao gồm phương thức một túi hồ sơ và hai túi hồ sơ. Đối với lựa chọn nhà đầu tư, các hình thức bao gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định nhà đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt, được áp dụng theo phương thức một túi hồ sơ. Chương III quy định về quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Nội dung chương này hướng dẫn các bước tiến hành cụ thể trong hoạt động đấu thầu. Quy trình lựa chọn nhà thầu trải qua các bước từ chuẩn bị lựa chọn nhà thầu (lập kế hoạch, hồ sơ mời thầu), tổ chức lựa chọn, đánh giá hồ sơ, thương thảo hợp đồng, đến phê duyệt và công khai kết quả, ký kết hợp đồng. Quy trình lựa chọn nhà đầu tư bắt đầu từ công bố dự án đầu tư kinh doanh, chuẩn bị, tổ chức lựa chọn, đánh giá hồ sơ, phê duyệt kết quả cho đến đàm phán và ký kết hợp đồng, có bổ sung thủ tục đánh giá hồ sơ đăng ký thực hiện dự án khi có từ hai nhà đầu tư trở lên quan tâm. Chương IV quy định chi tiết về hoạt động mua sắm tập trung nhằm tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả cho các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, luật đưa ra các phương thức lựa chọn nhà thầu cung cấp hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cũng như quy định về ưu đãi trong đấu thầu mua thuốc và việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công thông qua hình thức giao nhiệm vụ. Chương V quy định về nguyên tắc, điều kiện ký kết, các loại hợp đồng (như hợp đồng trọn gói, theo đơn giá cố định, đơn giá điều chỉnh, theo thời gian, chi phí cộng phí, kết quả đầu ra, tỷ lệ phần trăm và hợp đồng hỗn hợp), bảo đảm thực hiện hợp đồng và việc sửa đổi hợp đồng với nhà thầu. Bên cạnh đó, chương này cũng đề ra các nguyên tắc, điều kiện ký kết, bảo đảm thực hiện và thủ tục sửa đổi đối với hợp đồng dự án đầu tư kinh doanh ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư. Chương VI xác định rõ phạm vi quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu. Các bên bao gồm người có thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn nhà đầu tư, tổ chuyên gia, tổ thẩm định, nhà thầu, nhà đầu tư và tổ chức vận hành Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Chương VII quy định về nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu, bao gồm việc ban hành văn bản pháp luật, tổng kết đánh giá, quản lý hệ thống thông tin, giám sát, kiểm tra, đào tạo nghiệp vụ và hợp tác quốc tế. Đồng thời, chương này phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước thống nhất của Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp.

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 156/2020/NĐ-CP tập trung hoàn thiện các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán với nội dung các nhóm điều chỉnh chính như sau:

Thứ nhất, dự thảo sửa đổi tên Mục 1 Chương II và điều chỉnh toàn diện các quy định xử phạt liên quan đến hành vi vi phạm về chào bán, phát hành cổ phiếu riêng lẻ, trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và trái phiếu ra thị trường quốc tế. Cụ thể, Điều 8 được sửa đổi để nâng mức phạt và bổ sung các chế tài xử lý, biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm của công ty đại chúng trong việc mua lại trái phiếu trước hạn, thay đổi phương án sử dụng vốn không đúng quy định, vi phạm quy định về nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, hoặc lập hồ sơ chào bán không chính xác, che giấu sự thật. Bên cạnh đó, Điều 8a được bổ sung để quy định cụ thể mức phạt đối với các hành vi vi phạm tương tự áp dụng cho nhóm công ty không phải là công ty đại chúng và các loại trái phiếu khác. Thứ hai, dự thảo bổ sung các điều luật hoàn toàn mới để chế tài nghiêm ngặt các khâu liên quan đến thị trường trái phiếu. Điều 8b quy định chi tiết khung tiền phạt theo thời gian chậm đăng ký trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và đăng ký giao dịch tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam cũng như Sở giao dịch chứng khoán. Điều 8c thiết lập các mức xử phạt đối với tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan như đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức bảo lãnh, đại lý phát hành và tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán. Thêm vào đó, Điều 8d và Điều 8đ lần lượt chế tài các hành vi vi phạm về nghĩa vụ công bố thông tin, báo cáo của doanh nghiệp phát hành cùng tổ chức cung cấp dịch vụ, cũng như trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc tuân thủ hạn chế chuyển nhượng, cấm sử dụng tiền mặt khi giao dịch và quy định về đối tượng mua trái phiếu riêng lẻ. Thứ ba, dự thảo điều chỉnh một số điều khoản về nghiệp vụ thị trường khác như giao dịch ký quỹ (Điều 26), hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (Điều 27), và hành vi vi phạm về bảo quản, lưu giữ, thanh toán chứng khoán (Điều 39). Đồng thời, Điều 47 được sửa đổi, bổ sung nhằm phân định lại thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cho Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên thuộc Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật. Dự thảo quy định các điều khoản chuyển tiếp nhằm giải quyết các hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm nghị định có hiệu lực và ấn định hiệu lực thi hành của văn bản.

Was this article helpful?

Share
Read next

Related articles on this topic.

View all insights →
Newsletter10 · 09 · 2026

Legal Update 08/2026

Read more →
Newsletter10 · 08 · 2026

Legal Update 07/2026

Read more →
Newsletter10 · 07 · 2026

Legal Update 06/2026

Read more →

Have a project related to one of the six groups above?

BLF Investment team offers the first legal review session at no charge. Contact us to schedule.

Schedule a review
Talk to a lawyer