Bỏ qua nội dung chính
BUSINESS LAW FIRM
Bản tin10-03-20264 phút đọcTiếng Việt

Bản Tin Pháp Luật 03/2026

Nghị định 70/2026/NĐ-CP xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào mọi giai đoạn của quá trình quy hoạch, từ lập, thẩm định đến thực hiện và đánh giá.

Trần Ninh Hà
Trần Ninh Hà
Managing Partner · Trưởng nhóm Đầu tư & FDI

DOANH NGHIỆP - THƯƠNG MẠI

Nghị định số 69/2026/NĐ-CP ngày 06/03/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Nghị định 69/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 106/2025/NĐ-CP liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy (PCCC) và cứu nạn, cứu hộ (CNCH). Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong phạm vi một cơ sở hoặc những người thuê, mượn, ở nhờ nhà ở; theo đó, các đối tượng này sẽ bị xử phạt tương ứng với trách nhiệm của mình theo quy định pháp luật. Đặc biệt, Nghị định quy định đối với hành vi vi phạm hành chính nhiều lần cùng một lỗi trong cùng một cơ sở thì sẽ không xử phạt riêng lẻ từng lần mà thực hiện xử phạt một lần và áp dụng tình tiết tăng nặng. Ngoài ra, thủ tục xử lý vi phạm trên môi trường điện tử cũng chính thức được áp dụng theo các quy định hiện hành về thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về các quy định kỹ thuật và thời hiệu, Nghị định hướng dẫn chi tiết cách xác định thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt đối với các hoạt động như huấn luyện nghiệp vụ, thẩm duyệt thiết kế và nghiệm thu PCCC. Mức phạt tiền cũng được quy định cụ thể cho nhiều hành vi, chẳng hạn như phạt từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với việc sử dụng người làm nhiệm vụ PCCC, CNCH khi chưa có thông báo kết quả huấn luyện nghiệp vụ. Các vi phạm về hồ sơ kiểm tra, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, hay việc không bố trí người làm việc với đoànthanh tra cũng được điều chỉnh bổ sung cả về mức phạt lẫn các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc mua bảo hiểm hoặc buộc xuất trình hồ sơ theo quy định. Đối với việc trang bị phương tiện và an toàn thoát nạn, Nghị định thắt chặt yêu cầu về duy trì và lắp đặt các hệ thống báo cháy, chữa cháy, cũng như các thiết bị ngăn cháy như cửa, vách, rèm ngăn cháy. Hành vi không duy trì khoảng cách an toàn PCCC giữa các công trình có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Bên cạnh đó, các hình thức xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn (từ 01 đến 12 tháng) được áp dụng nghiêm ngặt cho các vi phạm nghiêm trọng về nghiệm thu hoặc an toàn thoát nạn. Cuối cùng, Nghị định mở rộng và phân định rõ ràng thẩm quyền xử phạt của nhiều lực lượng chức năng bao gồm Chủ tịch UBND các cấp, Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Cảnh sát biển và Thanh tra chuyên ngành. Đặc biệt, thẩm quyền mới được bổ sung cho Thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước theo chuyên ngành như Giám đốc các Sở Xây dựng, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường trong phạm vi lĩnh vực quản lý của mình. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2026, kèm theo các điều khoản chuyển tiếp cụ thể để giải quyết các hành vi vi phạm xảy ra trước và sau thời điểm Nghị định này có hiệu lực.

Nghị định số 101/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ.

Nghị định này thiết lập khung pháp lý chi tiết nhằm quản lý và thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, tập trung vào các trụ cột chính bao gồm: phân loại công nghệ, thẩm định công nghệ trong dự án đầu tư, cơ chế giá và thanh toán, cùng các biện pháp hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Theo đó, Chính phủ ban hành ba danh mục công nghệ quan trọng gồm: khuyến khích chuyển giao, hạn chế chuyển giao và cấm chuyển giao để làm căn cứ thực thi các chính sách ưu đãi hoặc kiểm soát.

Về công tác thẩm định, Nghị định quy định rõ thẩm quyền và quy trình đối với các dự án đầu tư sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Tùy vào quy mô và nguồn vốn, việc thẩm định sẽ do Hội đồng thẩm định nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ quản lý ngành hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện. Nhà đầu tư có trách nhiệm giải trình chi tiết về phương án công nghệ, các rủi ro tiềm ẩn và biện pháp kiểm soát trong hồ sơ dự án, đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin này. Trong hoạt động thương mại hóa, Nghị định cho phép các bên tự thỏa thuận giá và phương thức thanh toán linh hoạt như trả một lần, trả theo phần trăm doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế hoặc góp vốn bằng giá trị công nghệ. Tuy nhiên, đối với công nghệ có sử dụng vốn nhà nước hoặc chuyển giao giữa các bên có quan hệ liên kết, việc định giá phải thực hiện thông qua tư vấn thẩm định giá chuyên nghiệp để đảm bảo minh bạch và chống thất thu thuế. Nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Nhà nước triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ như: mua và phổ biến công nghệ phục vụ lợi ích công cộng, hỗ trợ tổ chức trung gian và sàn giao dịch công nghệ, cũng như ưu đãi cho các dự án giải mã, làm chủ công nghệ nhập khẩu. Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò đầu mối thống nhất quản lý, chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và phối hợp kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật chuyển giao công nghệ trên phạm vi cả nước.

Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT ngày 30/03/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường Quy định kỹ thuật thực hiện lồng ghép nội dung đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Thông tư này quy định về các kỹ thuật thực hiện lồng ghép bốn nội dung trọng tâm bao gồm: đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. Đối tượng áp dụng của Thông tư trải rộng từ các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai các cấp cho đến người sử dụng đất và các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đo đạc, xây dựng dữ liệu. Nguyên tắc cốt lõi của việc lồng ghép là phải thực hiện đồng thời các bước đăng ký, lập hồ sơ và tạo lập dữ liệu ngay trong quá trình đo vẽ chi tiết thửa đất, nhằm đảm bảo tính thống nhất, tránh trùng lặp khối lượng công việc và tối ưu hóa chi phí dựa trên định mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành.

Trong giai đoạn triển khai, chủ đầu tư có trách nhiệm lập kế hoạch điều phối giữa các bên, trong khi đơn vị thi công đóng vai trò chủ trì từ việc phối hợp với chính quyền địa phương để thông báo đo đạc đến việc thu thập hồ sơ pháp lý trực tiếp từ người dân. Điểm mới nổi bật là quy trình xử lý nội nghiệp phải được thực hiện ngay trong ngày sau khi đo đạc, bao gồm việc cập nhật dữ liệu không gian, xây dựng mã định danh thửa đất duy nhất trên toàn quốc và đối soát dữ liệu phi cấu trúc với Văn phòng đăng ký đất đai để ký số, tích hợp ngay vào hệ thống thông tin đất đai quốc gia. Các cơ quan như Sở Nông nghiệp và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai và UBND cấp xã đều có trách nhiệm cụ thể trong việc giám sát chất lượng, chuẩn hóa dữ liệu và thực hiện các thủ tục hành chính lồng ghép ứng dụng chữ ký số và hồ sơ điện tử. Về mặt kỹ thuật, Thông tư hướng dẫn chi tiết việc xây dựng Mã định danh thửa đất dựa trên vị trí địa lý trong hệ tọa độ quốc tế WGS84 thông qua thuật toán GeoHash với chuỗi 12 ký tự duy nhất. Quy trình này bao gồm các bước từ xác định điểm đặc trưng của thửa đất theo thuật toán Polygonlabel đến việc tính chuyển từ hệ VN2000 sang WGS84 và cập nhật vào cơ sở dữ liệu. Ngoài ra, Thông tư còn cung cấp danh mục chi tiết các hạng mục kiểm tra chất lượng sản phẩm từ lưới địa chính, bản đồ địa chính đến các loại sổ mục kê, sổ địa chính điện tử và dữ liệu phi cấu trúc nhằm đảm bảo tính chính xác và đồng bộ của hệ thống dữ liệu đất đai. Cuối cùng, Thông tư xác định hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/03/2026, đồng thời bãi bỏ và sửa đổi một số quy định liên quan tại các Thông tư trước đó của Bộ Tài nguyên và Môi trường để phù hợp với mô hình quản lý mới. Đối với các dự án đang triển khai, Thông tư cho phép tiếp tục thực hiện theo thiết kế cũ hoặc chuyển đổi sang hình thức lồng ghép nếu đủ điều kiện, nhằm đảm bảo quá trình chuyển tiếp diễn ra thông suốt và không gây gián đoạn cho công tác quản lý đất đai tại các địa phương.

ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

Nghị định số 96/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 31/03/2026 nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nhiều điều khoản quan trọng của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15. Nội dung cốt lõi của Nghị định tập trung vào việc cụ thể hóa các điều kiện đầu tư kinh doanh, quy trình tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, các biện pháp bảo đảm và ưu đãi đầu tư, cùng các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Về khía cạnh bảo đảm và ưu đãi đầu tư, Nghị định xác định rõ các hình thức bảo đảm của Nhà nước đối với các dự án hạ tầng quan trọng hoặc dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận của Quốc hội và Thủ tướng, bao gồm cả việc hỗ trợ cân đối ngoại tệ. Đặc biệt, cơ chế bảo đảm ưu đãi đầu tư trong trường hợp pháp luật thay đổi được quy định chi tiết, cho phép nhà đầu tư tiếp tục hưởng ưu đãi cũ hoặc đề xuất các biện pháp bù đắp nếu quy định mới làm giảm quyền lợi của họ. Các dự án đáp ứng nhiều điều kiện ưu đãi khác nhau sẽ được lựa chọn áp dụng mức ưu đãi cao nhất, đồng thời quyền kế thừa ưu đãi cũng được bảo đảm khi tổ chức lại doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng dự án. Đối với quản lý ngành nghề, Nghị định phân định rõ danh mục các chất ma túy, hóa chất độc hại và mẫu vật động thực vật hoang dã bị cấm kinh doanh, trừ các trường hợp đặc biệt phục vụ nghiên cứu, y tế hoặc quốc phòng theo quy định của Chính phủ. Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì rà soát, tập hợp và công bố công khai các điều kiện này trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để tạo sự minh bạch. Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng quyền tiếp cận thị trường tương đương nhà đầu tư trong nước, ngoại trừ các ngành nghề thuộc danh mục hạn chế hoặc chưa cam kết trong các điều ước quốc tế. Về trình tự thủ tục, Nghị định đẩy mạnh việc số hóa thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư và việc sử dụng chữ ký số trong hồ sơ điện tử. Quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ được chuẩn hóa với các thời hạn cụ thể cho việc lấy ý kiến giữa các cơ quan ban ngành và phản hồi cho nhà đầu tư. Nghị định cũng quy định chi tiết các thủ tục về chấp thuận chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án (như thay đổi mục tiêu, quy mô diện tích đất hoặc tiến độ), và các trường hợp đặc biệt như chia, tách, sáp nhập dự án hoặc sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn. Ngoài ra, cơ chế giải quyết vướng mắc và phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế cũng được thiết lập để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.

ĐẤU THẦU - CẠNH TRANH

Nghị định số 102/2026/NĐ-CP ngày 31/02/2026 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.

Nghị định số 102/2026/NĐ-CP tập trung vào việc hoàn thiện các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, đặc biệt là việc bổ sung quy định buộc thực hiện đầy đủ điều kiện trong quyết định về tập trung kinh tế và buộc cung cấp thông tin, tài liệu trung thực.

Về mức phạt tiền, Nghị định quy định cụ thể khung phạt từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng cho các trường hợp doanh nghiệp có doanh thu bằng 0 hoặc các bên tập trung kinh tế không cùng thị trường liên quan và không nằm trong cùng chuỗi cung ứng. Đối với hành vi không thông báo tập trung kinh tế, mức phạt có thể lên đến 2.000.000.000 đồng tùy thuộc vào tổng tài sản hoặc doanh thu của doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam, nhưng vẫn đảm bảo không vượt quá 05% tổng doanh thu trên thị trường liên quan. Cách thức xác định mức tiền phạt cụ thể cũng được chi tiết hóa dựa trên nguyên tắc lấy mức trung bình của khung hình phạt, sau đó điều chỉnh tăng hoặc giảm tùy theo số lượng tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ tương ứng. Nghị định cũng siết chặt quản lý đối với các hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin và tài liệu trong quá trình điều tra. Các hành vi cung cấp thông tin gian dối, không trung thực hoặc che giấu tài liệu sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Đặc biệt, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia được quyền bãi bỏ các kết quả thẩm định hoặc quyết định về tập trung kinh tế nếu phát hiện có sự sai lệch thông tin do hành vi gian dối của các bên nộp hồ sơ. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính được mở rộng cho cả Điều tra viên vụ việc cạnh tranh, Thư ký phiên điều trần và người thực hiện nhiệm vụ thẩm định hồ sơ. Bên cạnh đó, Nghị định hiện đại hóa quy trình thực thi bằng cách cho phép nộp tiền phạt qua cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc các dịch vụ thanh toán điện tử và quy định cụ thể về việc xử lý vi phạm trên môi trường điện tử. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2026. Các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định có hiệu lực nhưng đang được giải quyết hoặc vẫn đang diễn ra sẽ áp dụng theo quy định của Nghị định này. Tuy nhiên, đối với các quyết định đã ban hành và đang trong quá trình khiếu nại thì vẫn áp dụng Nghị định số 75/2019/NĐ-CP.

Bài viết này có hữu ích?

Chia sẻ
Đọc tiếp

Bài liên quan cùng chủ đề.

Xem tất cả bài viết →
Bản tin10 · 03 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 02/2026

Đọc tiếp →
Bản tin10 · 02 · 2026

Nghị quyết 254/2025/QH15 — gỡ khó vướng mắc Luật Đất đai

Đọc tiếp →
Bản tin08 · 01 · 2026

Bản Tin Pháp Luật 12/2025

Đọc tiếp →

Có dự án liên quan đến một trong sáu nhóm trên?

Nhóm Đầu tư BLF tổ chức buổi rà soát pháp lý đầu tiên không tính phí. Liên hệ để đặt lịch.

Đặt lịch rà soát
Trao đổi với luật sư