Bản Tin Pháp Luật 03/2026
Nghị định 70/2026/NĐ-CP xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào mọi giai đoạn của quá trình quy hoạch, từ lập, thẩm định đến thực hiện và đánh giá.

DOANH NGHIỆP - THƯƠNG MẠI
Nghị định số 69/2026/NĐ-CP ngày 06/03/2026 của Chính phủ
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Nghị định 69/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 106/2025/NĐ-CP liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy (PCCC) và cứu nạn, cứu hộ (CNCH). Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong phạm vi một cơ sở hoặc những người thuê, mượn, ở nhờ nhà ở; theo đó, các đối tượng này sẽ bị xử phạt tương ứng với trách nhiệm của mình theo quy định pháp luật. Đặc biệt, Nghị định quy định đối với hành vi vi phạm hành chính nhiều lần cùng một lỗi trong cùng một cơ sở thì sẽ không xử phạt riêng lẻ từng lần mà thực hiện xử phạt một lần và áp dụng tình tiết tăng nặng. Ngoài ra, thủ tục xử lý vi phạm trên môi trường điện tử cũng chính thức được áp dụng theo các quy định hiện hành về thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về các quy định kỹ thuật và thời hiệu, Nghị định hướng dẫn chi tiết cách xác định thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt đối với các hoạt động như huấn luyện nghiệp vụ, thẩm duyệt thiết kế và nghiệm thu PCCC. Mức phạt tiền cũng được quy định cụ thể cho nhiều hành vi, chẳng hạn như phạt từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với việc sử dụng người làm nhiệm vụ PCCC, CNCH khi chưa có thông báo kết quả huấn luyện nghiệp vụ. Các vi phạm về hồ sơ kiểm tra, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, hay việc không bố trí người làm việc với đoànthanh tra cũng được điều chỉnh bổ sung cả về mức phạt lẫn các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc mua bảo hiểm hoặc buộc xuất trình hồ sơ theo quy định. Đối với việc trang bị phương tiện và an toàn thoát nạn, Nghị định thắt chặt yêu cầu về duy trì và lắp đặt các hệ thống báo cháy, chữa cháy, cũng như các thiết bị ngăn cháy như cửa, vách, rèm ngăn cháy. Hành vi không duy trì khoảng cách an toàn PCCC giữa các công trình có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Bên cạnh đó, các hình thức xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn (từ 01 đến 12 tháng) được áp dụng nghiêm ngặt cho các vi phạm nghiêm trọng về nghiệm thu hoặc an toàn thoát nạn. Cuối cùng, Nghị định mở rộng và phân định rõ ràng thẩm quyền xử phạt của nhiều lực lượng chức năng bao gồm Chủ tịch UBND các cấp, Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Cảnh sát biển và Thanh tra chuyên ngành. Đặc biệt, thẩm quyền mới được bổ sung cho Thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước theo chuyên ngành như Giám đốc các Sở Xây dựng, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường trong phạm vi lĩnh vực quản lý của mình. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2026, kèm theo các điều khoản chuyển tiếp cụ thể để giải quyết các hành vi vi phạm xảy ra trước và sau thời điểm Nghị định này có hiệu lực.
Nghị định số 101/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ.
Nghị định này thiết lập khung pháp lý chi tiết nhằm quản lý và thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, tập trung vào các trụ cột chính bao gồm: phân loại công nghệ, thẩm định công nghệ trong dự án đầu tư, cơ chế giá và thanh toán, cùng các biện pháp hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Theo đó, Chính phủ ban hành ba danh mục công nghệ quan trọng gồm: khuyến khích chuyển giao, hạn chế chuyển giao và cấm chuyển giao để làm căn cứ thực thi các chính sách ưu đãi hoặc kiểm soát.
Về công tác thẩm định, Nghị định quy định rõ thẩm quyền và quy trình đối với các dự án đầu tư sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Tùy vào quy mô và nguồn vốn, việc thẩm định sẽ do Hội đồng thẩm định nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ quản lý ngành hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện. Nhà đầu tư có trách nhiệm giải trình chi tiết về phương án công nghệ, các rủi ro tiềm ẩn và biện pháp kiểm soát trong hồ sơ dự án, đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin này. Trong hoạt động thương mại hóa, Nghị định cho phép các bên tự thỏa thuận giá và phương thức thanh toán linh hoạt như trả một lần, trả theo phần trăm doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế hoặc góp vốn bằng giá trị công nghệ. Tuy nhiên, đối với công nghệ có sử dụng vốn nhà nước hoặc chuyển giao giữa các bên có quan hệ liên kết, việc định giá phải thực hiện thông qua tư vấn thẩm định giá chuyên nghiệp để đảm bảo minh bạch và chống thất thu thuế. Nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Nhà nước triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ như: mua và phổ biến công nghệ phục vụ lợi ích công cộng, hỗ trợ tổ chức trung gian và sàn giao dịch công nghệ, cũng như ưu đãi cho các dự án giải mã, làm chủ công nghệ nhập khẩu. Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò đầu mối thống nhất quản lý, chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và phối hợp kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật chuyển giao công nghệ trên phạm vi cả nước.
Nghị định số 100/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 của Chính phủ
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 15/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026 và Nghị định 33/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 của Chính phủ.
Nghị định 100/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP về thi hành Luật Sở hữu trí tuệ. Nội dung trọng tâm của Nghị định này tập trung vào việc hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước thông qua chuyển đổi số và xác lập khung pháp lý cho các đối tượng sở hữu trí tuệ mới phát sinh từ công nghệ hiện đại.
Một trong những điểm mới nổi bật là quy định về quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI). Theo đó, quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay thiết kế bố trí chỉ được xác lập nếu con người có đóng góp đáng kể vào quá trình sáng tạo, bao gồm việc xác định vấn đề, lựa chọn dữ liệu đầu vào và tinh chỉnh kết quả cuối cùng từ hệ thống AI. Song song với đó, Nghị định cũng thiết lập cơ chế xử lý mâu thuẫn khi một đối tượng được bảo hộ bởi nhiều loại quyền sở hữu trí tuệ khác nhau, ưu tiên bảo vệ các quyền đã phát sinh hoặc được xác lập trước đó để tránh gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và đảm bảo giá trị kinh tế cho chủ thể quyền. Về mặt quản lý và hỗ trợ khai thác, Nghị định yêu cầu xây dựng các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ, bao gồm cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp, hệ thống thông tin quản lý chỉ dẫn địa lý và đặc biệt là cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Các hệ thống này không chỉ phục vụ việc tra cứu, xác lập quyền mà còn hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ trong các giao dịch dân sự, góp vốn hoặc thế chấp vay vốn. Công tác bảo vệ quyền cũng được đẩy mạnh thông qua việc tự động hóa quy trình nghiệp vụ để phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm trên không gian mạng bằng công nghệ phân tích dữ liệu lớn. Cuối cùng, Nghị định kiện toàn bộ máy và thủ tục hành chính liên quan đến đại diện sở hữu công nghiệp và giám định viên. Quy định mới chi tiết hóa quy trình kiểm tra nghiệp vụ, cấp chứng chỉ hành nghề, cũng như tiêu chuẩn đối với các cơ sở đào tạo nghiệp vụ giám định về sở hữu công nghiệp và giống cây trồng. Nhà nước cũng cam kết bảo đảm kinh phí hằng năm cho hoạt động quản lý, xử lý đơn và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt ưu tiên cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và các ngành công nghệ chiến lược.
ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG
Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
Nghị định số 96/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 31/03/2026 nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nhiều điều khoản quan trọng của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15. Nội dung cốt lõi của Nghị định tập trung vào việc cụ thể hóa các điều kiện đầu tư kinh doanh, quy trình tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, các biện pháp bảo đảm và ưu đãi đầu tư, cùng các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Về khía cạnh bảo đảm và ưu đãi đầu tư, Nghị định xác định rõ các hình thức bảo đảm của Nhà nước đối với các dự án hạ tầng quan trọng hoặc dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận của Quốc hội và Thủ tướng, bao gồm cả việc hỗ trợ cân đối ngoại tệ. Đặc biệt, cơ chế bảo đảm ưu đãi đầu tư trong trường hợp pháp luật thay đổi được quy định chi tiết, cho phép nhà đầu tư tiếp tục hưởng ưu đãi cũ hoặc đề xuất các biện pháp bù đắp nếu quy định mới làm giảm quyền lợi của họ. Các dự án đáp ứng nhiều điều kiện ưu đãi khác nhau sẽ được lựa chọn áp dụng mức ưu đãi cao nhất, đồng thời quyền kế thừa ưu đãi cũng được bảo đảm khi tổ chức lại doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng dự án. Đối với quản lý ngành nghề, Nghị định phân định rõ danh mục các chất ma túy, hóa chất độc hại và mẫu vật động thực vật hoang dã bị cấm kinh doanh, trừ các trường hợp đặc biệt phục vụ nghiên cứu, y tế hoặc quốc phòng theo quy định của Chính phủ. Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì rà soát, tập hợp và công bố công khai các điều kiện này trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để tạo sự minh bạch. Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng quyền tiếp cận thị trường tương đương nhà đầu tư trong nước, ngoại trừ các ngành nghề thuộc danh mục hạn chế hoặc chưa cam kết trong các điều ước quốc tế. Về trình tự thủ tục, Nghị định đẩy mạnh việc số hóa thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư và việc sử dụng chữ ký số trong hồ sơ điện tử. Quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ được chuẩn hóa với các thời hạn cụ thể cho việc lấy ý kiến giữa các cơ quan ban ngành và phản hồi cho nhà đầu tư. Nghị định cũng quy định chi tiết các thủ tục về chấp thuận chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án (như thay đổi mục tiêu, quy mô diện tích đất hoặc tiến độ), và các trường hợp đặc biệt như chia, tách, sáp nhập dự án hoặc sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn. Ngoài ra, cơ chế giải quyết vướng mắc và phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế cũng được thiết lập để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.
ĐẤU THẦU - CẠNH TRANH
Nghị định số 102/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 của Chính phủ
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.
Nghị định số 102/2026/NĐ-CP tập trung vào việc hoàn thiện các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, đặc biệt là việc bổ sung quy định buộc thực hiện đầy đủ điều kiện trong quyết định về tập trung kinh tế và buộc cung cấp thông tin, tài liệu trung thực.
Về mức phạt tiền, Nghị định quy định cụ thể khung phạt từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng cho các trường hợp doanh nghiệp có doanh thu bằng 0 hoặc các bên tập trung kinh tế không cùng thị trường liên quan và không nằm trong cùng chuỗi cung ứng. Đối với hành vi không thông báo tập trung kinh tế, mức phạt có thể lên đến 2.000.000.000 đồng tùy thuộc vào tổng tài sản hoặc doanh thu của doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam, nhưng vẫn đảm bảo không vượt quá 05% tổng doanh thu trên thị trường liên quan. Cách thức xác định mức tiền phạt cụ thể cũng được chi tiết hóa dựa trên nguyên tắc lấy mức trung bình của khung hình phạt, sau đó điều chỉnh tăng hoặc giảm tùy theo số lượng tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ tương ứng. Nghị định cũng siết chặt quản lý đối với các hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin và tài liệu trong quá trình điều tra. Các hành vi cung cấp thông tin gian dối, không trung thực hoặc che giấu tài liệu sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Đặc biệt, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia được quyền bãi bỏ các kết quả thẩm định hoặc quyết định về tập trung kinh tế nếu phát hiện có sự sai lệch thông tin do hành vi gian dối của các bên nộp hồ sơ. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính được mở rộng cho cả Điều tra viên vụ việc cạnh tranh, Thư ký phiên điều trần và người thực hiện nhiệm vụ thẩm định hồ sơ. Bên cạnh đó, Nghị định hiện đại hóa quy trình thực thi bằng cách cho phép nộp tiền phạt qua cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc các dịch vụ thanh toán điện tử và quy định cụ thể về việc xử lý vi phạm trên môi trường điện tử. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2026. Các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định có hiệu lực nhưng đang được giải quyết hoặc vẫn đang diễn ra sẽ áp dụng theo quy định của Nghị định này. Tuy nhiên, đối với các quyết định đã ban hành và đang trong quá trình khiếu nại thì vẫn áp dụng Nghị định số 75/2019/NĐ-CP.
ĐẤT ĐAI - NHÀ Ở
Nghị định số 70/2026/NĐ-CP ngày 09/03/2026 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch.
Nghị định 70/2026/NĐ-CP xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào mọi giai đoạn của quá trình quy hoạch, từ lập, thẩm định đến thực hiện và đánh giá. Một trong những nội dung quan trọng là quy định cụ thể về thời gian lập các loại quy hoạch gồm: quy hoạch tổng thể quốc gia, không gian biển và sử dụng đất quốc gia không quá 24 tháng, trong khi quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh không quá 18 tháng.
Nghị định cũng thiết lập các nguyên tắc và trình tự nghiêm ngặt để xử lý các trường hợp mâu thuẫn giữa các loại quy hoạch khác nhau, ưu tiên các quy hoạch có tầm quan trọng quốc gia, liên quan đến quốc phòng, an ninh hoặc các dự án đầu tư công đặc biệt. Về việc huy động nguồn lực, Nghị định cho phép tiếp nhận sự hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dưới hình thức tài trợ bằng tiền, kết quả nghiên cứu hoặc hỗ trợ tổ chức hội thảo, đào tạo. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn lực này phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch và không được tiếp nhận hỗ trợ từ nước ngoài đối với các quy hoạch liên quan đến bí mật nhà nước hoặc an ninh quốc gia. Bên cạnh đó, Nghị định còn đặt ra các tiêu chuẩn khắt khe về năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn và chuyên gia chủ trì lập quy hoạch, yêu cầu họ phải có số năm kinh nghiệm và thành tích tương ứng với cấp quy hoạch thực hiện. Nghị định 70/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về quy trình lập thẩm định và phê duyệt quy hoạch ngành, đồng thời ấn định thời hạn công bố quy hoạch chậm nhất là 10 ngày làm việc sau khi được phê duyệt. Nội dung của các bản quy hoạch từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh đều phải bao gồm các phân tích, đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế, xác định mục tiêu và đề xuất các giải pháp thực hiện, bao gồm cả hệ thống sơ đồ, bản đồ quy hoạch theo tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia VN-2000. Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch cũng được quy định rõ về trách nhiệm xây dựng, vận hành nhằm đảm bảo tính kết nối và chia sẻ dữ liệu thông suốt giữa các bộ, ngành và địa phương. Cuối cùng, Nghị định hướng dẫn về công tác kiểm tra, đánh giá thực hiện quy hoạch và quy định trình tự, thủ tục rút gọn cho việc điều chỉnh quy hoạch khi cần thiết. Các nội dung đánh giá tập trung vào tình hình thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, tiến độ các dự án trọng điểm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả. Hồ sơ điều chỉnh theo thủ tục rút gọn phải được lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan liên quan và đăng tải công khai trên hệ thống thông tin quốc gia trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT ngày 30/03/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Quy định kỹ thuật thực hiện lồng ghép nội dung đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Thông tư này quy định về các kỹ thuật thực hiện lồng ghép bốn nội dung trọng tâm bao gồm: đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. Đối tượng áp dụng của Thông tư trải rộng từ các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai các cấp cho đến người sử dụng đất và các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đo đạc, xây dựng dữ liệu. Nguyên tắc cốt lõi của việc lồng ghép là phải thực hiện đồng thời các bước đăng ký, lập hồ sơ và tạo lập dữ liệu ngay trong quá trình đo vẽ chi tiết thửa đất, nhằm đảm bảo tính thống nhất, tránh trùng lặp khối lượng công việc và tối ưu hóa chi phí dựa trên định mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành.
Trong giai đoạn triển khai, chủ đầu tư có trách nhiệm lập kế hoạch điều phối giữa các bên, trong khi đơn vị thi công đóng vai trò chủ trì từ việc phối hợp với chính quyền địa phương để thông báo đo đạc đến việc thu thập hồ sơ pháp lý trực tiếp từ người dân. Điểm mới nổi bật là quy trình xử lý nội nghiệp phải được thực hiện ngay trong ngày sau khi đo đạc, bao gồm việc cập nhật dữ liệu không gian, xây dựng mã định danh thửa đất duy nhất trên toàn quốc và đối soát dữ liệu phi cấu trúc với Văn phòng đăng ký đất đai để ký số, tích hợp ngay vào hệ thống thông tin đất đai quốc gia. Các cơ quan như Sở Nông nghiệp và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai và UBND cấp xã đều có trách nhiệm cụ thể trong việc giám sát chất lượng, chuẩn hóa dữ liệu và thực hiện các thủ tục hành chính lồng ghép ứng dụng chữ ký số và hồ sơ điện tử. Về mặt kỹ thuật, Thông tư hướng dẫn chi tiết việc xây dựng Mã định danh thửa đất dựa trên vị trí địa lý trong hệ tọa độ quốc tế WGS84 thông qua thuật toán GeoHash với chuỗi 12 ký tự duy nhất. Quy trình này bao gồm các bước từ xác định điểm đặc trưng của thửa đất theo thuật toán Polygonlabel đến việc tính chuyển từ hệ VN2000 sang WGS84 và cập nhật vào cơ sở dữ liệu. Ngoài ra, Thông tư còn cung cấp danh mục chi tiết các hạng mục kiểm tra chất lượng sản phẩm từ lưới địa chính, bản đồ địa chính đến các loại sổ mục kê, sổ địa chính điện tử và dữ liệu phi cấu trúc nhằm đảm bảo tính chính xác và đồng bộ của hệ thống dữ liệu đất đai. Cuối cùng, Thông tư xác định hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/03/2026, đồng thời bãi bỏ và sửa đổi một số quy định liên quan tại các Thông tư trước đó của Bộ Tài nguyên và Môi trường để phù hợp với mô hình quản lý mới. Đối với các dự án đang triển khai, Thông tư cho phép tiếp tục thực hiện theo thiết kế cũ hoặc chuyển đổi sang hình thức lồng ghép nếu đủ điều kiện, nhằm đảm bảo quá trình chuyển tiếp diễn ra thông suốt và không gây gián đoạn cho công tác quản lý đất đai tại các địa phương.
LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG
Nghị định số 105/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công đoàn về tài chính công đoàn.
Nghị định 105/2026/NĐ-CP xác lập phạm vi điều chỉnh bao gồm các quy định về phương thức, thời hạn, nguồn đóng kinh phí công đoàn; các trường hợp miễn, giảm, tạm dừng đóng; việc quản lý, sử dụng kinh phí công đoàn của tổ chức người lao động tại doanh nghiệp cũng như các nội dung ngân sách nhà nước hỗ trợ. Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng lao động, cùng các cấp công đoàn và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Về phương thức và nguồn đóng kinh phí, Nghị định quy định hầu hết các đơn vị thực hiện đóng mỗi tháng một lần cùng thời điểm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Riêng các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có thể đăng ký đóng 3 tháng một lần theo chu kỳ sản xuất. Nguồn đóng kinh phí được hạch toán vào chi phí của đơn vị, trong đó các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên có thể sử dụng kết hợp từ ngân sách nhà nước, nguồn thu sự nghiệp và các nguồn thu hợp pháp khác. Nghị định cũng định nghĩa rõ hành vi chậm đóng là sau thời hạn quy định, và hành vi không đóng là khi đơn vị không trích nộp hoặc đóng không đầy đủ sau 60 ngày kể từ khi hết hạn. Một nội dung quan trọng khác là các chính sách hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước. Ngân sách trung ương hỗ trợ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam các khoản như niên liễm quốc tế, kinh phí hoạt động của đơn vị sự nghiệp trực thuộc, nhiệm vụ khoa học công nghệ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và các chương trình mục tiêu quốc gia. Tương tự, ngân sách địa phương hỗ trợ Liên đoàn Lao động cấp tỉnh các nội dung tương ứng về hoạt động sự nghiệp, đào tạo và đầu tư phát triển tại địa phương. Việc quản lý nguồn hỗ trợ này phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc phân cấp ngân sách, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước. Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn, Nghị định đưa ra các cơ chế miễn, giảm và tạm dừng đóng kinh phí công đoàn. Các đơn vị đang thực hiện giải thể hoặc phá sản có thể được xem xét miễn số tiền chưa đóng. Trường hợp gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc biến động kinh tế dẫn đến việc phải cắt giảm số lượng lớn lao động (từ 30% hoặc theo quy mô lao động cụ thể) có thể được giảm tối đa 20% mức đóng trong thời gian không quá 06 tháng. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp phải tạm dừng sản xuất kinh doanh từ 30 ngày trở lên hoặc bị thiệt hại trên 50% tài sản thì có thể được tạm dừng đóng kinh phí công đoàn tối đa 12 tháng. Cuối cùng, Nghị định quy định về việc phân phối và sử dụng kinh phí công đoàn đối với tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Các tổ chức này sau khi đăng ký hợp pháp sẽ được phân phối kinh phí dành cho cấp cơ sở dựa trên tỷ lệ thực đóng của các thành viên trong tổ chức đó. Việc sử dụng kinh phí phải phục vụ các nội dung như đại diện, bảo vệ quyền lợi người lao động, đào tạo, và phải được công khai minh bạch hàng năm cho thành viên.
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Nghị định số 84/2026/NĐ-CP ngày 25/03/2026 của Chính Phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý nợ công.
Nghị định số 84/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi và bổ sung một số điều của các Nghị định trước đó trong lĩnh vực quản lý nợ công bao gồm các điểm chính sau đây:
Trước hết, Nghị định thực hiện điều chỉnh các quy định về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ tại Nghị định số 91/2018/NĐ-CP. Một điểm mới đáng chú ý là điều kiện đối với doanh nghiệp đề nghị bảo lãnh: doanh nghiệp không được bị lỗ trong 03 năm liền kề gần nhất, trừ trường hợp được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế xếp hạng tương đương hoặc thấp hơn một bậc so với xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Nghị định cũng quy định rõ hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm là một chỉ tiêu trong kế hoạch vay, trả nợ công, do Bộ Tài chính xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đối với các ngân hàng chính sách, mức bảo lãnh thực tế trong năm không được vượt quá hạn mức đã được phê duyệt. Tiếp theo, Nghị định sửa đổi các quy định về quản lý nợ của chính quyền địa phương tại Nghị định số 93/2018/NĐ-CP. Nội dung sửa đổi tập trung vào việc lập kế hoạch vay, trả nợ 05 năm và hằng năm của địa phương phải nằm trong phạm vi trần và hạn mức dư nợ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Nghị định bổ sung các quy định về phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, bao gồm cả trái phiếu xanh, yêu cầu các địa phương phải báo cáo danh mục dự án sử dụng vốn từ nguồn này theo pháp luật về bảo vệ môi trường. Nguồn chi trả nợ gốc cũng được làm rõ, bao gồm số vay để trả nợ gốc, thu ngân sách địa phương, kết dư ngân sách và các khoản tăng thu. Bên cạnh đó, các nội dung về nghiệp vụ quản lý nợ công tại Nghị định số 94/2018/NĐ-CP cũng được cập nhật. Nghị định xác định lại các công cụ quản lý nợ công gồm chỉ tiêu an toàn nợ, kế hoạch vay trả nợ 05 năm và hằng năm. Một quy định quan trọng là Bộ Tài chính phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ hằng tháng về tình hình huy động vốn, trả nợ công và thị trường vốn. Đồng thời, kế hoạch vay và trả nợ công hằng năm phải được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh chậm nhất 15 ngày làm việc sau khi được phê duyệt. Cuối cùng, Nghị định sửa đổi các quy định về cho vay lại vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ tại Nghị định số 97/2018/NĐ-CP. Đối tượng vay lại bao gồm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp. Nghị định quy định chi tiết về tỷ lệ cho vay lại đối với từng nhóm đối tượng, chẳng hạn như địa phương không nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương có tỷ lệ vay lại là 50% (trừ Hà Nội và TP.HCM là 100%). Ngoài ra, các quy định về hồ sơ thẩm định, quản lý tài sản bảo đảm và trách nhiệm báo cáo định kỳ của bên vay lại cũng được thắt chặt nhằm đảm bảo khả năng trả nợ và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
THUẾ - PHÍ
Thông tư số 20/2026/TT-BTC ngày 12/03/2026 của Chính phủ
Quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thông tư 20/2026/TT-BTC là văn bản hướng dẫn giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác cách thức kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định mới nhất của Bộ Tài chính. Điểm thực tiễn của Thông tư này là chuẩn hóa danh mục hồ sơ cho các khoản chi phí được trừ, đặc biệt chú trọng đến các hoạt động đầu tư cho con người và công nghệ như đào tạo nghề cho lao động, nghiên cứu phát triển và chuyển đổi số. Thông tư còn đưa ra các hướng dẫn hồ sơ cụ thể cho các khoản chi liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính (Net Zero), tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế xanh mà vẫn đảm bảo được tối ưu hóa nghĩa vụ thuế.
Để giải quyết triệt để các vướng mắc về thời điểm nộp thuế, Thông tư đã ấn định các mốc xác định doanh thu rõ ràng cho từng ngành nghề đặc thù như: ngày chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng xuất khẩu, thời điểm nghiệm thu khối lượng đối với ngành xây dựng hay ngày xác nhận chỉ số công tơ đối với cung cấp điện, nước. Quy định này giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro bị phạt chậm nộp do hiểu sai thời điểm ghi nhận thu nhập. Đồng thời, Thông tư cũng siết chặt quản lý thuế đối với các nhà thầu nước ngoài và doanh nghiệp kinh doanh trên nền tảng số, thương mại điện tử nhằm đảm bảo mọi nguồn thu phát sinh tại Việt Nam đều được quản lý công bằng và minh bạch. Thông tư thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần tự chủ của doanh nghiệp khi cho phép các đơn vị tự xác định điều kiện ưu đãi, miễn giảm thuế và số lỗ được trừ khi quyết toán. Tuy nhiên, quyền lợi này đi kèm với trách nhiệm giải trình nghiêm ngặt; doanh nghiệp có nghĩa vụ lưu giữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ và bản chính để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra. Sự thay đổi này không chỉ giúp giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà mà còn đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao tính tự giác và chuyên nghiệp trong công tác quản trị tài chính để tránh các khoản truy thu và xử phạt không đáng có.
Thông tư số 21/2026/TT-BTC ngày 17/03/2026 của Bộ Tài chính
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế.
Thông tư 21/2026/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 80/2021/TT-BTC, tập trung vào việc cập nhật các quy định về quản lý thuế để phù hợp với hệ thống pháp luật mới về Đất đai và Thuế thu nhập doanh nghiệp. Nội dung trọng tâm của Thông tư này là quy định chi tiết về thành phần hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất cho nhiều đối tượng cụ thể, đồng thời điều chỉnh cơ chế tài chính trong công tác ủy nhiệm thu thuế.
Về hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất, Thông tư hướng dẫn chi tiết cho bốn nhóm đối tượng chính bao gồm: người thuê đất nông nghiệp bị thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn; các tổ chức sản xuất kinh doanh phải tạm ngừng hoạt động do lý do bất khả kháng; đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại các khu vực đặc biệt khó khăn; và các tổ chức sử dụng lao động là người khuyết tật. Điểm mới đáng chú ý là việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong thủ tục hành chính, theo đó người nộp thuế không cần nộp các giấy tờ do cơ quan nhà nước cấp nếu các dữ liệu này đã được tích hợp đầy đủ trên cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ quan thuế có quyền khai thác. Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định lại mức kinh phí ủy nhiệm thu thuế, giao quyền cho Cục trưởng Cục Thuế quyết định mức chi cụ thể phù hợp với từng địa bàn nhưng phải đảm bảo mức bình quân không vượt quá 6% trên tổng số tiền thu được. Đồng thời, văn bản này bãi bỏ Điều 60 của Thông tư 80/2021/TT-BTC và thay thế các mẫu tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản (Mẫu 02/TNDN) và chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp nước ngoài (Mẫu 05/TNDN). Cuối cùng, Thông tư xác lập các điều khoản chuyển tiếp quan trọng, đặc biệt là hướng dẫn xử lý hồ sơ trong giai đoạn địa phương chưa ban hành trình tự thủ tục hành chính mới về đất đai theo Nghị định số 50/2026/NĐ-CP.
Thông tư số 32/2026/TT-BTC ngày 27/03/2026 của Bộ Tài chính
Hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa.
Thông tư số 32/2026/TT-BTC nhằm hướng dẫn chi tiết các loại thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hoạt động chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa. Đây là văn bản pháp lý quan trọng được xây dựng dựa trên Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Thông tư này áp dụng rộng rãi cho mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đến các giao dịch này trong phạm vi điều chỉnh đã được xác định.
Về chính sách thuế cụ thể, các hoạt động chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa được xác định là đối tượng không chịu thuế GTGT. Đối với thuế TNDN, nhà đầu tư là tổ chức trong nước và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa sẽ áp dụng mức thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế (được xác định bằng giá bán trừ giá mua và chi phí liên quan). Riêng đối với nhà đầu tư là tổ chức nước ngoài thực hiện chuyển nhượng thông qua các đơn vị cung cấp dịch vụ trong nước, mức thuế áp dụng là 0,1% tính trên doanh thu chuyển nhượng từng lần. Tương tự, đối với các nhà đầu tư cá nhân, không phân biệt là cá nhân cư trú hay không cư trú, khi thực hiện chuyển nhượng tài sản mã hóa qua tổ chức cung cấp dịch vụ sẽ phải nộp thuế TNCN theo tỷ lệ 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần. Thời điểm để xác định doanh thu và thu nhập đối với các giao dịch này được quy định thống nhất với các quy định hiện hành về chuyển nhượng chứng khoán. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (27/3/2026) và sẽ được áp dụng xuyên suốt thời gian thực hiện thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết của Chính phủ.
Bài viết này có hữu ích?